|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HSST Ngày 24 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH-TỈNH BẠC LIÊU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng
Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Phước và ông Lê Việt Phương
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nghi – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn N (tên gọi khác N1), sinh ngày 09 tháng 9 năm 2000 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú và chỗ ở: G, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 01/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn G, sinh năm 1972 và bà Huỳnh Kim H, sinh năm 1977; anh chị em ruột 03 người; Tiền án: Bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2024, thi hành xong án phí ngày 20/01/2025, chưa xóa án tích. Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 30/12/2024, bị cáo Phạm Văn N điều khiển xe biển kiểm soát 94K2-031.56, đi từ nơi làm việc thuộc khu dân cư T, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đến một hẻm không số, đường H thuộc khóm F, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để mua ma túy sử dụng. Bị cáo N đi vào hẻm khoảng 25m thì gặp một người đàn ông lạ, mang khẩu trang che kín mặt (không xác định được nhân thân) đang đứng trên đường, bị cáo N hỏi người đàn ông mua ma túy với giá 180.000 đồng và 01 nỏ dùng để sử dụng ma túy, sau khi mua được ma túy, bị cáo N cầm gói ma túy trên tay trái, rồi điều khiển xe qua cầu V đến khu vực phường B, thành phố B, ghé vào tiệm tạp hóa mua 01 chai nước Sting và 01 bật lửa rồi tiếp tục điều khiển xe theo đường lộ dọc kênh Bạc Liêu - Hòa Bình, khi đến cầu N thuộc ấp C, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo N rẽ vào đường vắng, dừng xe lại cặp đường lộ, dùng bật lửa đốt 02 lỗ trên nắp chai nước nhãn hiệu Sting để cấm ống hút và nỏ thủy tinh vào, sau đó lấy ma túy để vào nỏ một ít sử dụng, phần còn lại bỏ vào ngăn có lớp nhựa màu trắng bên trong bóp da, cùng với lưỡi dao lam, cất giữ để lần sau sử dụng, rồi bỏ bóp vào túi quần bên phải Nhường đang mặc. Sau khi sử dụng ma túy xong, N ném bộ dụng cụ sử dụng ma túy và bật lửa xuống kênh cặp lộ, ngay nơi vừa sử dụng ma túy (không tìm thấy), sau đó N điều khiển xe về nhà thuộc ấp G, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Khi về đến nhà do sợ cha mẹ phát hiện sử dụng ma túy, N cởi đồ ra đi tắm và mặc lại chiếc quần có bóp da chứa gói ma túy bên trong, xin tiền ông Phạm Văn G (cha N), để đi chơi. N điều khiển xe biển kiểm soát 94K2-031.56 đi từ nhà ra thị trấn H để tiếp tục đi về hướng thành phố B, trên đường đi, N đã đánh rơi bóp ở C thuộc ấp T, thị trấn H, huyện H.
Khoảng 11 giờ 30 phút, anh Ngô Bảo T nhặt được bóp da do N đánh rơi và giao nộp cho Công an thị trấn H. Qua kiểm tra 01 cái bóp da màu đen, có khóa kéo và nhiều ngăn, bên trong có 01 căn cước công dân tên Phạm Văn N, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đối với xe máy nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 94K2-031.56, tên Nguyễn Thị Như H1, tiền Việt Nam 101.000 đồng, 01 lưỡi dao lam, 01 gói nylon màu trắng, được hàn kín hai đầu, 01 đầu có viền màu xanh, kích thước 2,5x1,7cm, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.
Ngày 31/12/2024, Phạm Văn N giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu xanh đen, biển kiểm soát 94K2-031.56.
Kết luận giám định số 16/KL-KTHS, ngày 14/01/2025, Phòng K Công an tỉnh B, két luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 01 (một) gói nylon (ký hiệu M), kích thước 2,5 cm x 1,7 cm là chất ma túy; loại Methamphetamine; Có khối lượng là 0,13934 gam.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-HS ngày 19/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình truy tố Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình và xác định số ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cá nhân, không vì mục đích nào khác.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi nêu tóm tắt nội dung và phân tích tính chất của vụ án, những tình tiết về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật vẫn giữ nguyên quan điểm theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn N với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- + Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: Lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: 0,13297 gam; 01 (một) cái bóp da màu đen, có khoá kéo và nhiều ngăn, tình trang đã qua sữ dụng.
- + Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- + Đối với vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo Phạm Văn N 01 căn cước công dân số [...], cấp ngày 12/9/2022, mang tên Phạm Văn N, tiền Việt Nam 101.000 đồng, 01 lưỡi lam có giấy bọc màu trắng; trả cho ông Phạm Văn G 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy tên Nguyễn Thị Như H1, 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu xanh đen, biển kiểm soát 94K2-031.56.
- + Đối với người đã bán số ma túy cho bị cáo, không rõ nhân thân, lai lịch nên không làm việc được.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xin, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố; Lời khai nhận của bị cáo phù hợp và thống nhất với các lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, tờ nhận tội, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung trong giai đoạn điều tra. Phù hợp với các chứng cứ khác như biên bản trong quá trình điều tra, kết luận giám định và các chứng cứ thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 30/12/2024, tại ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu bị cáo Phạm Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,13934 gam ma túy, loại Methamphetamine. Bản thân bị cáo biết tinh thể màu trắng bị cáo tàng trữ là ma túy đá; bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, không nhằm mục đích khác; bị cáo nhận thức được chất ma túy là chất gây nghiện.
Hành vi của bị cáo trong lần phạm tội này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy cần xử lý đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích và cũng để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết trên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: Lượng ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,13297 gam. 01 (một) cái bóp da màu đen, có khoá kéo và nhiều ngăn, tình trang đã qua sữ dụng.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
[6] Các vấn đề khác:
[6.1] Đối với vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo Phạm Văn N: 01 căn cước công dân số [...], cấp ngày 12/9/2022, mang tên Phạm Văn N, tiền Việt Nam 101.000 đồng, 01 lưỡi lam có giấy bọc màu trắng; trả cho ông Phạm Văn G: 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy tên Nguyễn Thị Như H1, 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu xanh đen, biển kiểm soát 94K2-031.56. Do không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[6.2] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, không rõ nhân thân, lai lịch nên không làm việc được.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy:
- + Mẫu vật (kí hiệu M) còn lại sau giám định có khối lượng 0,13297 gam (Chất ma tuý) và toàn bộ các võ phong bì, vỏ gói nylon, tất cả được chứa trong phong bì niêm phong, bên ngoài có ghi: vụ “16/GĐMT-2025”, có 04 (bốn) hình dấu tròn màu đỏ của phòng K Công an tỉnh B, chữ ký ghi tên của cán bộ niêm phong Trần Đắc N2 thuộc phòng K Công an tỉnh B;
- + 01 (một) cái bóp da màu đen, có khoá kéo và nhiều ngăn, tình trang đã qua sữ dụng.
Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/05/2025.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Thị Mỹ H2 |
Bản án số 28/2025/HSST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH-TỈNH BẠC LIÊU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH-TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
