TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 28/2025/DS-ST. Ngày: 23-5-2025 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đình Phấn;
- Ông Vũ Xuân Thuỳ.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tùng – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2025/TLST-DS ngày 14/2/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-DS ngày 07/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ D, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
-Người đại diện theo uỷ quyền của bà Phạm Thị N: Bà Cao Ngọc Á, sinh năm 1992 và ông Chu Hải L, sinh năm 2001; đều địa chỉ: Ô, V, Khu đô thị M, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt bà Á, vắng mặt ông L.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ D, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai; có mặt
-Người đại diện theo uỷ quyền của chị Trần Thị H: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ D, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai; có mặt
-Ngân hàng N2 - Chi nhánh X- Phòng G.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị H1 – Giám đốc Phòng giao dịch; bà H1 xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Phạm Văn T trình bày:
Anh và bà Phạm Thị N còn là quan hệ họ hàng, anh gọi bà N là cô ruột. Ngày 21/5/2013, anh và bà Phạm Thị N có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại xóm A, xã X (nay là xóm A, xã X) với vị trí kích thước mặt đường phía Tây thổ từ giáp đất ông S là 7,5m, giáp phía đông là 7,5m, chiều dài giáp đất của anh hiện tại (đã được xã chuyển nhượng từ thời điểm năm 2014), diện tích đất khoảng 60m². Thửa đất của nhà bà Phạm Thị N đã được UBND huyện X cấp GCN ngày 03/12/2007 tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, mang tên bà Phạm Thị N diện tích là 215m², (trong đó bà N đã chuyển nhượng cho anh là khoảng 60m²). Hai bên đã thống nhất với giá tiền là 60.000.000 đồng, anh đã giao đủ số tiền cho bà N trước sự chứng kiến của mọi người và bà N hứa sang tên làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh. Sau đấy khoảng một năm, bà N đã tiến hành bàn giao đất cho anh nhưng không thấy làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh; thời điểm đó thì hai bên không có thoả thuận gì về việc chịu trách nhiệm các chi phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau. Anh đã nhiều lần giục bà N làm thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh nhưng không thấy bà N có động thái gì. Bà N yêu cầu anh phải huỷ biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/5/2013 thì bà N mới làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh và bắt anh cam kết không được thêm bất cứ điều khoản gì về thửa đất trên nhưng anh không đồng ý, tại vì anh sợ anh huỷ đi thì bà N không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh nữa. Phần đất bà N đã chuyển nhượng cho anh khoảng 60m² với phần đất của nhà bà N giáp với đất bán cho anh thì bà N đã đổ sân, từ mặt đất nhà anh đến mặt sân nhà bà N cao khoảng 70 - 80cm, phía trên có rào lưới B40. Nay anh thấy quyền lợi của anh bị xâm phạm, anh yêu cầu Toà án nhân dân huyện Xuân Trường công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N và anh, anh yêu cầu bà Phạm Thị N có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên cho anh. Tại buổi hoà giải ngày 20 tháng 3 năm 2025 anh còn yêu cầu bà Phạm Thị N phải chịu chi phí làm thủ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là ½ do mỗi bên đều có lỗi, trong biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất không nói rõ ai phải chịu chi phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 8 và ngày 21 tháng 5 năm 2025, anh có đơn đề nghị Toà án buộc bà Phạm Thị N thực hiện hợp đồng và có trách nhiệm làm thủ tục chuyền nhượng quyền sử dụng diện tích 62m2 (trên cơ sở kết quả đo đạc thực tế diện tích đất) theo quy định của pháp luật cho anh, và anh không yêu cầu bà Phạm Thị N phải chịu chi phí làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng nữa mà khoản chi phí đó anh xin chịu trách nhiệm.
Tại bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Phạm Thị N trình bày:
Bà Phạm Thị N là chủ sử dụng thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, có diện tích 215m², trong đó: Đất ở nông thôn là 160m², thời hạn sử dụng: Lâu dài và đất cây lâu năm LNK là 55m², thời hạn sử dụng đến tháng 12/2043. Thửa đất trên đã được Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/12/2007.
Ngày 21/5/2013, bà Phạm Thị N có chuyển nhượng cho ông Phạm Văn T và vợ là bà Trần Thị Hoài M vườn nằm trong thửa đất nêu trên. Mảnh vườn chuyển nhượng có vị trí, kích thước như sau: Phía tây giáp thổ đất ông S1 là 7,5m; phía Đông là 7,5m; chiều dài giáp đất của xã với giá chuyển nhượng là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Việc mua bán hai bên có lập Biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có công chứng, chứng thực. Sau khi ký biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, bà N và anh T đã thực hiện việc giao và nhận diện tích đất nêu trên. Hai bên có thoả thuận với nhau là vợ chồng anh T chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục pháp lý để tách đất, đóng các khoản thuế phí và lệ phí để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Vì vợ chồng anh T đi làm ăn xa nên đất đang để trống không xây dựng gì. Anh T đã rào chắn thành khuôn viên đất riêng biệt. Anh T nhiều lần về quê để thực hiện các thủ tục tách thửa đất và bà N đều đồng ý hỗ trợ, phối hợp với anh T nhưng chưa tách được.
Nay vợ chồng anh T khởi kiện bà N ra Toà án nhân dân huyện Xuân Trường đề nghị Toà án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên và yêu cầu bà N có trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho anh T thì bà N có ý kiến như sau:
Việc hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng đất trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, bà N vẫn nhất trí là diện tích đất nêu trên bà đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh T, các bên đã thanh toán đầy đủ tiền và đã thực hiện giao nhận đất được hơn 10 năm. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên.
Anh T yêu cầu bà N có trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho anh thì bà N không đồng ý vì khi tiến hành việc mua bán chuyển nhượng, hai bên thống nhất anh T là người chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục tách thửa đất và xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T, cụ thể sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, anh T đã nhiều lần đi thực hiện công việc nêu trên nhưng chưa được. Hơn nữa trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng không có điều khoản nào quy định bà N là người phải chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho anh T. Do đó bà yêu cầu Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo kết quả đo đạc diện tích đất là 62m2 nhưng bà N chỉ nhận chuyển nhượng cho anh Tứ diện T1 là 55m2, diện tích thừa còn lại phải trả lại cho bà N.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ngân hàng N2-Chi nhánh huyện X-Phòng G có ý kiến như sau: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1950; địa chỉ: xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Hợp đồng tín dụng số 3205-LAV-2-24-2354 ngày 19/07/2024.
Số tiền vay 200.000.000đ.
Dự nợ đến ngày 20/3/2025 là 200.000.000đ, sau đó bà Phạm Thị N đã trả được và tính đến dự nợ ngày 12/5/2025 là 100.000.000₫
Hạn trả nợ ngày 19/07/2025.
A chi nhánh huyện X – Phòng G yêu cầu bà Phạm Thị N thanh toán hết khoản nợ vay tại Hợp đồng tín dụng số 3205-LAV-2-24-2354 ngày 19/07/2024 trước khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến phần đất bà N đã bán cho anh T tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12 có cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sêry số AK82136, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ‘H’ 02361/2495/QD-UBND do UBND huyện X cấp ngày 03/12/2007.
* Kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản ngày 27/3/2025
- Theo giá thị trường; Đất ở vị trí tranh chấp là 5.500.000đ/m2
-Giá đất nông nghiệp, sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất ở có giá là 3.700.000đ/m2.
- Một phần trụ cổng của nhà bà N đã hết khấu hao (phần trụ cổng này nằm trên phần đất mà bà N đã chuyển nhượng cho anh T).
- Kết quả thu thập tài liệu chứng cứ tại UBND xã X
* Về quan hệ gia đình: Bà Phạm Thị N và anh Phạm Văn T là quan hệ họ hàng, bà N là cô ruột của anh T.
*Về nguồn gốc đất đang tranh chấp:
Thửa đất của bà Phạm Thị N ngày 03/12/2007 đã được UBND huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12 diện tích 215m2, trong đó đất ở 160m2, đất vườn 55m2.
* Căn cứ kết quả đo đạc thực tế ngày 27/03/2025
- Diện tích đất đo hiện trạng của nhà bà Phạm Thị N là 230m2, trong khi đó theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 215m2; diện tích thực tế tăng lên 15m2. Diện tích tăng lên do lấn ra hàng lang lưu không của đường. Sau khi trừ diện tích lấn ra lưu không của đường thì diện tích đất của nhà bà Phạm Thị N là 215m2.
* So sánh bản đồ với kết quả đo đạc
Diện tích đo thực tế sau khi trừ đất lưu không diện tích còn lại của nhà bà Phạm Thị N là 215m2 so với bản đô lập năm 1997 diện tích là như nhau (215m2).
* Ngày 21/5/2013 bà Phạm Thị N (cô ruột của anh T) có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại xóm A, xã X (nay là xóm A, xã X) với vị trí kích thước mặt đường phía Tây thổ từ giáp đất ông S là 7,5m, giáp phía đông là 7,5m, chiều dài giáp đất cho anh Phạm Văn T2. Sau khi các bên viết giấy tay với nhau nhưng chưa làm thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trước đây anh Phạm Văn T đã nhiều lần yêu cầu bà Phạm Thị N làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T nhưng không hiểu vì lý do gì đó mà giữa bà N và anh T không làm thủ tục được.
Căn cứ vào kết quả đo đạc thì diện tích mà bà Phạm Thị N chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T là 62m2, trong đó có 7m2 là đất ở, 55 m2 là đất vườn.
Mặc dù hai bên chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trong khi đó anh T đã thanh toán hết tiền cho bà Phạm Thị N.
Về nghĩa vụ chịu thế; Do văn bản các bên viết không rõ ràng ai phải chịu nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Vì vậy đề nghị Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Quan điểm của địa phương: Nay anh Phạm Văn T khởi kiện về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bà Phạm Thị N đề nghị Tòa án tiếp tục hòa giải để các bên đi đến thoả thuận, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự cũng như trên cơ sở của pháp luật nếu như các bên không thực hiện hợp đồng như đã cam kết thì đề nghị Toà án buộc bà Phạm Thị N thực hiện hợp đồng là chuyển quyền sử dụng đất đai cho anh Phạm Văn T theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào: Điều 116, Điều 129, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật dân sự; Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 134 và Điều 137 của Luật đất đai năm 2024; Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Đề nghị HĐXX Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T đối với bà Phạm Thị N.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 21/5/2013 giữa anh Phạm Văn T2 và bà Phạm Thị N là hợp đồng hợp pháp.
Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm giao phần đất cho vợ chồng anh Phạm Văn T, chị Trần Thị H, chiều dài phía tây là 7,5m, chiều dài phía đông là 7,5m, chiều dài phía nam là 7.93m, chiều dài phía bắc là 8.95m; diện tích là 62m2 (trong đó 7m2 đất ở, 55m2 đất vườn) diện tích đất này nằm trong tổng diện tích 215m2, thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, toạ tạc tại xóm A, xã X cũ nay là xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 821364, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H - 02361, do Ủy ban nhân dân huyện X ngày 03/12/2007 cấp mang tên bà Phạm Thị N.
Buộc bà Phạm Thi N1 có trách nhiệm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 821364, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H - 02361, do Ủy ban nhân dân huyện X ngày 03/12/2007 cấp mang tên bà Phạm Thị N cho anh Phạm Văn T để anh Phạm Văn T làm thủ tục tách thửa để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc bà Phạm Thị N phối hợp với anh Phạm Văn T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc bà Phạm Thị N phải tháo dỡ phần công trình xây dựng không nằm trên phần đất thuộc quyền mình sử dụng.
Anh Phạm Văn T chịu khoản chi phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đình chỉ phần anh Phạm Văn T không yêu cầu bà Phạm Thị N cùng anh T phải chịu khoản chi phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bà Phạm Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, vì vậy đề nghị HĐXX miễn án phí cho bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Để có cơ sở xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay không thì cần xem xét đánh giá một cách khách quan và toàn diện tài liệu chứng cứ, quy định của pháp luật trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có cơ sở nhận định, đánh giá cụ thể như sau:
[3] Về nguồn đất thửa đất: Thửa đất mà đang tranh chấp có nguồn gốc là của bà Phạm Thị N; thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12 diện tích 215m2, trong đó đất ở 160m2, đất vườn 55m2. Ngày 03/12/2007 đã được UBND huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Phạm Thị N.
-Đánh giá về việc hai bên viết giấy chuyển quyền sử dụng đất cho nhau.
Theo lời trình bày của anh T: Do bà Phạm Thị N không có nhu cầu sử dụng đất nên bà N đã chuyển nhượng cho anh một phần diện tích đất nằm trong diện tích đất 215m2, cụ thể ngày 21/5/2013, anh T và bà Phạm Thị N (cô ruột của anh T) có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại xóm A, xã X (nay là xóm A, xã X) với vị trí kích thước mặt đường phía Tây thổ từ giáp đất ông S là 7,5m, giáp phía đông là 7,5m, chiều dài giáp đất của anh T hiện tại (đã được xã chuyển nhượng từ thời điểm năm 2014), diện tích đất khoảng 60m2 (theo kết quả đo đạc thực thế là 62m2 với giá 60.000.000đ. Sau khi mua bán chuyển nhượng do anh đi làm ăn xa và đinh linh bà N sẽ làm thủ tục sang tên cho anh nhưng anh không thấy bà N làm thủ tục nên anh đã giục bà N rất nhiều lần nhưng bà N không làm nên buộc anh phải khởi kiện ra Toà án và nay anh yêu cầu Toà N phải thực hiện hợp đồng và làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh diện tích là 62m2, trong đó có 7m2 đất ở và 55m2 đất vườn.
Bà Phạm Thị N thừa nhận là hai bên có thoả thuận việc bà chuyển nhượng 1 phần quyền sử dụng đất cho anh T là đúng và đã nhận đủ sổ tiền, kích thước cạnh thửa đất theo như biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/5/2013.
Đánh giá: Khi bà Phạm Thị N và anh Phạm Văn T giao kết việc chuyển quyền sử dụng đất với nhau được thể hiện bằng biên bản lập ngày 21/3/2013 là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật, bên nhận chuyển nhượng là anh T đã giao hết số tiền 60.000.000đ cho bên chuyển nhượng là bà N và bà N cũng thừa nhận là mình đã nhận đủ số tiền này. Tuy nhiên trong giấy viết chuyển nhượng quyền sử dụng đất không ghi rõ ràng ai là người chịu trách nhiệm làm các thủ tục sang tên, ai là người chịu lệ phí trước bạ...do vậy dẫn đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra từ năm 2013 đến nay hai bên không ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục dẫn đến tình trạng kéo dài chưa làm được, trong khi đó các bên đều đưa ra lý do để đổ lỗi cho nhau.
Trong biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ ghi cạnh phía bắc 7,5m và cạnh phía tây 7,5m, còn cạnh phía Nam và cạnh phía bắc không nói đến dài bao nhiêu. Căn cứ vào kết quả đo đạc hiện trạng mà các bên nhận mô mốc thì được thể hiện diện tích là 62m2, trong đó có 7m2 đất ở, 55m2 đất vườn. Anh Phạm Văn T đề nghị Toà án buộc bà N thực hiện hợp đồng và phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho anh là 62m2, còn phía đại diện theo uỷ quyền của bà Phạm Thị N chỉ nhất trí chuyển quyền sử dụng đất là 55m2, diện tích đất còn lại thừa ra 7m2 trả lại cho bà N.
Bà Phạm Thị N yêu cầu anh T phải trả lại diện tích 7m2, xét thấy là không phù hợp, bởi lẽ căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế diện tích được thể hiện chiều dài phía tây, phía đông mỗi cạnh có số đo 7,5m theo như biên bản ngày 21/5/2013, (khi đo đạc bà N chính là người trực tiếp chỉ và nhận mốc giới giáp ranh với các hộ lân cận, diện tích 55m2 mà bà N trình bày không phù hợp với thực tế đo đạc và diện tích đất hiện tại của bà N còn lấn sang phần đất đã chuyển nhượng cho anh T) còn cạnh phía nam và cạnh phía bắc đều đã khống chế đó là phần đất của bà N và phần đất của nhà anh T mà trước đây anh T đã mua của UBND xã X. Như vậy, phải khẳng định diện tích 62m2 là phù hợp với biên bản các bên đã ký kết chuyển nhượng cho nhau là đúng.
Bà Phạm Thị N cho rằng bà thiện chí làm thủ tục để chuyển quyền sử dụng đất cho anh T, trong khi đó bản thân bà N cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình mang đi thế chấp tại Phòng G- Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N2 để vay số tiền 200.000.000đ và đến nay vẫn còn nợ của ngân hàng số tiền là 100.000.000đ, hạn trả nợ là ngày 19/7/2025. Trong khi đó anh T yêu cầu bà N cùng ra cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục thì bà N không làm. Như vậy lời trình bày của bà N là mẫu thuẫn với nhau, mặt khác tài sản là quyền sử dụng đất bà N đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho anh T nhưng lại mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình đi thế chấp để vay tiền điều này lại càng trái với quy định của pháp luật. Từ những phân tích trên có cơ sở là buộc bà N phải chuyển nhượng diện tích đất là 62m2 cho anh Phạm Văn T.
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án anh T cho rằng do hai bên cùng có lỗi vì trong biên bản không thể hiện ai là người thực hiện nghĩa vụ chịu thuế và làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, anh T yêu cầu bà N phải cùng với anh chịu phí làm thủ tục và nếu có phí chuyển mục đích sử dụng đất cũng phải chịu. Nhưng sau đó anh T đã có đơn thể hiện chỉ yêu cầu bà Phạm Thị N thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như trong biên bản mà hai bên đã lập và đồng thời yêu cầu bà N phải đi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh theo quy định của pháp luật. Còn về nghĩa vụ chịu khoản phí chuyển nhượng... thì anh T xin chịu. Xét thấy, anh T không yêu cầu bà Phạm Thị N cùng với anh phải chịu khoản phí chuyển nhượng và khoản phí khác nữa mà anh T xin chịu là phù hợp.
[5] Từ những phân tích đánh giá nêu trên có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T đối với bà Phạm Thị N.
[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bà Phạm Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên HĐXX miễn án phí cho bà N.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 116, Điều 129, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 23, Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 134 và Điều 137 của Luật đất đai năm 2024; Điều 147, Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T đối với bà Phạm Thị N.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 21/5/2013 giữa anh Phạm Văn T và bà Phạm Thị N là hợp đồng hợp pháp.
Buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm giao phần đất cho vợ chồng anh Phạm Văn T, chị Trần Thị H, chiều dài phía tây là 7,5m, chiều dài phía đông là 7,5m, chiều dài phía nam là 7.93m, chiều dài phía bắc là 8.95m; diện tích là 62m2 (trong đó 7m2 đất ở, 55m2 đất vườn) diện tích đất này nằm trong tổng diện tích 215m2, thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, toạ tạc tại xóm A, xã X cũ nay là xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 821364, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H - 02361, do Ủy ban nhân dân huyện X ngày 03/12/2007 cấp mang tên bà Phạm Thị N.
Buộc bà Phạm Thi N1 có trách nhiệm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 18, tờ bản đồ số 12, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 821364, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H - 02361, do Ủy ban nhân dân huyện X ngày 03/12/2007 cấp mang tên bà Phạm Thị N cho anh Phạm Văn T để anh Phạm Văn T làm thủ tục tách thửa để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc bà Phạm Thị N phối hợp với anh Phạm Văn T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc bà Phạm Thị N phải tháo dỡ phần công trình xây dựng không nằm trên phần đất thuộc quyền mình sử dụng.
Anh Phạm Văn T chịu khoản chi phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Đình chỉ phần anh Phạm Văn T không yêu cầu bà Phạm Thị N cùng anh T phải chịu khoản chi phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
(Sơ đồ kèm theo)
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí cho bà Phạm Thi N1.
Hoàn trả lại cho anh Phạm Văn T số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000350 ngày 14/2/2025 của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Phạm Ngọc Long |
Bản án số 28/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 28/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đât đai
