Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 22/5/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu

Ông Hà Quang Văn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nho Quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025.về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 05 năm 2025; giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh H, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
  • Bị đơn Anh Bùi Văn T sinh năm: 1994; Nơi cư trú: Bản M, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa chị H, anh T (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện,bản tự khai, biên bản tiếp cận công khai chứng cứ và đơn xin xét xử vắng mặt chị Võ Thị Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh H và anh Bùi Văn T được tự do tìm hiểu, sau một thời gian đã tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 07/02/2022 tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Chị H và anh T đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 và anh T đã bỏ về nhà tại bản Mét, xã K. Đến nay mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn ai quan tâm đến nhau nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan cho chị H xin được ly hôn anh Bùi Văn T

- Về con chung: Chị Võ Thị Thanh H và anh Bùi Văn T có 01 con chung là cháu Bùi Võ Thảo M sinh ngày 24/11/2022, hiện nay cháu M đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng chăm sóc cháu M đến khi đủ 18 tuổi và về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu tòa án giải quyết

- Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị Võ Thị Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Võ Thảo M, sinh ngày 24/11/2022 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung: không có, không đề nghị tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ bị đơn anh Bùi Văn T trình bày:

- Bị đơn anh T đã được Tòa án thông báo hợp lệ nhưng vẫn không có mặt. Quá trình giải quyết, Tòa án đã về làm việc tại gia đình anh T thì anh T đã có ý kiến với Tòa án: Anh T đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và đã biết việc chị H xin ly hôn. Anh T đồng ý ly hôn và xác nhận trình bày của chị H là đúng. Về con chung: anh T và chị H có một con chung là cháu Bùi Võ Thảo M sinh ngày 24/11/2022. Hiện nay cháu M đang ở với mẹ. Khi ly hôn anh T đồng ý để chị H nuôi cháu Thảo M đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: anh và chị H tự thỏa thuận. Tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong quá trình làm tự khai, anh Bùi Văn T có trình bày do điều kiện đi làm công việc ở xa nên không thể thường xuyên về làm việc với tòa án được, trong quá trình giải quyết và xét xử anh đề nghị xin Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm cho anh được vắng mặt.

Ngoài ra, anh Bùi Văn T không có yêu cầu phản tố hay đề nghị gì khác.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hộivề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thanh H. Xử cho chị Võ Thị Thanh H được ly hôn với anh Bùi Văn T.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cho chị Võ Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Bùi Võ Thảo M sinh ngày 24/11/2022 cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Thanh H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Thị Thanh H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.

Ngày 06/5/2025 chị Võ Thị Thanh H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227; khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Văn T là bị đơn trong vụ án đã có yêu cầu xin xử vắng mặt tại phiên tòa với lý do đi làm ăn xa không thể tham gia phiên tòa được. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1]. Chị Võ Thị Thanh H và anh Bùi Văn T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2022 tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung. Trong thời gian chung sống, hai vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Chị H và anh T đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 và anh T đã bỏ về nhà tại bản Mét, xã K ở cho đến nay. Nay chị H thấy mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng, không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên chị làm đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T. Anh T cũng trình bày sau khi kết hôn vợ chồng anh T chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn giống như chị H đã trình bày. Nay chị H xin ly hôn anh T cũng đồng ý ly hôn, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị Võ Thị Thanh H được ly hôn với anh Bùi Văn T là phù hợp Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Chị Võ Thị Thanh H và anh Bùi Văn T có 1 con chung là cháu Bùi Võ Thảo M sinh ngày 24/11/2022. Hiện nay, cháu đang ở với chị H. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M và anh T cũng đồng ý giao cháu M cho chị H nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và nguyện vọng được nuôi con của chị H là chính đáng, anh T cũng đồng ý để chị H nuôi con nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Võ Thảo M đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: chị H, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4]. Về án phí: Chị Võ Thị Thanh H chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147,khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Xử cho chị Võ Thị Thanh H được ly hôn đối với anh Bùi Văn T. Quan hệ hôn nhân của chị Võ Thị Thanh H và anh Bùi Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Bùi Võ Thảo M sinh ngày 24/11/2022 cho chị Võ Thị Thanh H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    “Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không xem xét
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/24/0001005 ngày 08 tháng 4 năm 2025.
  5. Án xử công khai sơ thẩm chị Võ Thị Thanh H và anh Bùi Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sư.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Thị Thanh Nhàn

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND H. NQ;
  • - Chi cục THA H.NQ;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger