Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIÀNG

TỈNH HẢI DƯƠNG


Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 14/4/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Khanh và bà Nguyễn Thị Thúy

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mừng - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025; theo thông báo thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1991; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969; có vợ là chị Đỗ Thị L, sinh năm 1993. Bị cáo có 1 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 150 ngày 26/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt Nguyễn Tiến Đ 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 18/12/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;

2. Họ và tên: Đặng Văn N, sinh năm 1990; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Đặng Văn V, sinh năm 1959 và bà Đào Thị Đ1, sinh năm 1957, bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/6/2007, Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 18/12/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;

3. Họ và tên: Nhữ Văn S, sinh năm 1994; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nhữ Văn S1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957; bị cáo có vợ là chị Hà Thị Đ2, sinh năm 1993, có 03 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/12/2024 đến ngày 19/12/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa;

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn N: Bà Nguyễn Thị L1 – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có mặt tại phiên tòa;

- Người bào chữa cho bị cáo Nhữ Văn S: Ông Nguyễn Ngọc T – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có mặt tại phiên tòa;

- Người làm chứng:

  1. Anh Phạm Văn D, sinh năm 1992
  2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nhữ Văn S, Nguyễn Tiến Đ và Đặng Văn N có quan hệ bạn bè xã hội và đều là những người sử dụng ma túy tổng hợp. Chiều tối ngày 07/12/2024, do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời, S thuê xe ôm đến khu vực huyện G, tỉnh Bắc Ninh mua của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) 01 túi ma túy đá và 20 viên ma túy hồng phiến với số tiền 4.000.000 đồng. S mang ma túy về nhà, chia túi ma túy đá vào 02 túi nilon và cất 20 viên ma túy hồng phiến vào 01 túi nilon. Tối cùng ngày, tại nhà ở của mình S đã sử dụng 6 viên ma túy hồng phiến.

Khoảng 20 giờ ngày 08/12/2024, Phạm Văn D sinh năm 1992, ở thôn L, xã C, huyện C gọi qua zalo cho Nguyễn Tiến Đ, nhờ Đ mua hộ 500.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì Đ đồng ý. Dân chuyển khoản 500.000 đồng từ số tài khoản 0341007079815 ngân hàng V1 đến số tài khoản 7000108989999 ngân hàng MB của Đ. Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, lắp sim số 0334900991 gọi từ tài khoản zalo “Nguyễn Tiến Đ” đến tài khoản zalo “Đặng Văn N” nhờ N mua hộ 500.000 đồng ma túy đá cho D, N đồng ý và bảo Đ chuyển khoản tiền mua ma túy. Đ chuyển khoản 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của Đ đến số tài khoản 0981572790 ngân hàng MB của N. N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen, lắp sim số 0981572790 gọi đến tài khoản zalo “Huyết lệ tình sầu” của S hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, S đồng ý và bảo N chuyển tiền vào ví điện tử MoMo của S. Sau đó, S dùng ống hút được quấn bằng tờ tiền 20.000 đồng xúc một phần ma túy đá trong 01 túi nilon cho vào 01 túi nilon khác rồi gói túi ma túy này vào 01 khẩu trang màu trắng để tại cổng nhà S. Khoảng 21 giờ cùng ngày, N đi xe môtô BKS 34B1-594.78 (của N) đến nhà S, S chỉ vị trí để túi ma túy cho N. Theo chỉ dẫn của S, N lấy được túi ma túy mang đến nhà Đ ở thôn C, xã T, huyện C Khi N đưa cho Đ túi ma túy thì Đ nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên đã thống nhất với N lấy một phần ma túy mua cho D để sử dụng, N đồng ý. Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn tại phòng bếp, dùng ống hút nhựa, một đầu cắt vát xúc một phần ma túy cho vào coóng thủy tinh rồi dùng bật lửa hơ nóng miệng túi ma túy để dán lại. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, D đến cổng nhà Đ, Đ cầm túi ma túy ra đưa cho D. D cầm túi ma túy đi đến đoạn đường trong khu đô thị G thuộc thôn T, xã T thì dừng lại, sử dụng hết túi ma túy bằng hình thức hít.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ dùng bật lửa châm đốt dưới coóng thủy tinh nấu ma túy để Đ và N cùng sử dùng bằng hình thức hít vào cơ thể, đến khoảng 22 giờ 25 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa màu trắng bên trong chứa dung dịch không màu, nắp chai màu xanh trên nắp chai đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn coóng thuỷ tinh liên kết với đoạn ống nhựa màu vàng, đỏ dài 20cm, phần bầu coóng bám dính chất màu nâu, 01 lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng kẻ vàng dài 46cm); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc kẻ đỏ dài 16cm, một đầu cắt vát; 01 đoạn ống nhựa liên kết kim loại màu trắng, đen dài 12cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; điện thoại di động của N, Đ và xe môtô BKS 34B1 - 594.78.

Ngày 10/12/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nhữ Văn S, thu giữ trong túi quần bên phải của S 01 túi nilon màu trắng, viền túi màu trắng kích thước (6,5x4)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền túi màu đỏ kích thước (7x4,2)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7x4,2)cm bên trong có 14 viên nén màu hồng và nhiều mảnh vụn màu nâu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, lắp sim số 0372730789. Khám xét nơi ở của S thu giữ tại giường trong phòng ngủ: 01 cân tiểu ly màu trắng, 42 vỏ túi nilon màu trắng, miệng viền túi màu đỏ kích thước (4x7)cm; 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000 đồng được quấn thành hình trụ.

- Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu tìm chất ma túy đối với Đặng Văn N, Nguyễn Tiến Đ, Nhữ Văn S đều dương tính với Methamphetamine.

- Kết luận giám định số 02/KL-KTHS, ngày 11/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất lỏng không màu bám dính bên trong chai nhựa màu trắng; trong bầu coóng thủy tinh; trong đoạn ống hút nhựa màu trắng kẻ vàng gắn trên nắp chai màu xanh; trong đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc đỏ, một đầu cắt vát thu tại phòng bếp nhà Nguyễn Tiến Đ.

- Kết luận giám định số 03/KL – KTHS, ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu trắng là ma túy Methamphetamie, khối lượng 3,039g; chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ là ma túy Methamphetamie, khối lượng 2,384g; các viên nén màu hồng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ là ma túy Methamphetamie, khối lượng 1,425g; các mảnh vụn màu nâu trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ là ma túy Methamphetamie, khối lượng 0,992g; chất tinh thể màu trắng bám dính trong lòng ống hút được cuộn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng là ma túy Methamphetamine.

Về vật chứng vụ án: Đối với 7,178g ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly màu trắng; 45 vỏ túi nilon; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng; 03 điện thoại di động; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc đỏ, một đầu cắt vát; 01 đoạn ống nhựa liên kết kim loại màu trắng đen; 01 bật lửa ga màu đỏ và xe môtô BKS 34B1-594.78 được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng để chờ xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Tại Cáo trạng số 21/2025/CT-VKS ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nhữ Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, các bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Đặng Văn N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng rút một phần Quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Đặng Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Đ, N, S đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả xét nghiệm chất ma túy và kết luận giám định nêu trên. Bị cáo Đ và N hoàn toàn đồng ý với việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng rút một phần Quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Đặng Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đồng thời, các bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật được nêu trong nội dung bản Cáo trạng và sau khi đã rút một phần Quyết định truy tố là hoàn toàn đúng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, rút một phần quyết định truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Về hình phạt chính: Tuyên bố bị cáo Nhữ Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Đặng Văn N, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nhữ Văn S. Đề nghị xử phạt bị cáo Nhữ Văn S từ 08 (Tám) năm đến 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 10/12/2024; Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đ và N. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 09/12/2024; Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Văn N từ 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng đến 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 09/12/2024; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 7,178g ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly màu trắng; 45 vỏ túi nilon; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc đỏ một đầu cắt vát; 01 đoạn ống nhựa liên kết kim loại màu trắng đen; 01 bật lửa ga màu đỏ; các số sim 0334900991, 0981572790, 0372730789. Đề nghị doanh nghiệp V2 thu hồi các số viễn thông 0334900991, 0981572790, 0372730789. Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max và xe môtô Yamaha Sirius BKS 34B1-594.78; Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 20.000 đồng; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật phí lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Văn N và Nhữ Văn S.

* Người bào chữa cho bị cáo N: Bà Nguyễn Thị L1 xác định, tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng rút một phần Quyết định truy tố đối với bị cáo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là hoàn toàn chính xác, bà đồng ý. Hành vi của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên các điều khoản và tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã truy tố là đúng pháp luật; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã phù hợp theo quy định của pháp luật, phù hợp với kết quả xét hỏi công khai tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình giúp làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, hoàn cảnh, điều kiện của bị cáo, gia đình bị cáo nhiều năm liền thuộc hộ cận nghèo, điều kiện kinh tế gia đình hết sức khó khăn. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo N với mức án từ 24 (Hai mươi bốn) đến 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ 09/12/2024 là phù hợp với hành vi bị cáo thực hiện; đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí cho bị cáo N theo qui định của pháp luật.

* Người bào chữa cho bị cáo S: Ông Nguyễn Ngọc T xác định hành vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, các điều khoản và tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo là hoàn toàn chính xác; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã phù hợp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo tích cực tham gia các phong trào do đoàn thanh niên phát động có xác nhận của Đoàn thanh niên xã, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, gia đình thuộc hộ cận nghèo nhiều năm liền tại địa phương nơi bị cáo cư trú, hiện bị cáo có 03 con nhỏ nên đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo S; Xử phạt bị cáo S với mức án từ 07 năm 06 (Sáu) tháng tù đến 08 (Tám) năm tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ 10/12/2024 nhằm thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo; để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, tiếp tục phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội; đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí cho bị cáo theo qui định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều xác định đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chúng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 08/12/2024, tại khu vực cổng nhà ở của Nhữ Văn S ở thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, S đã có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy Methamephetamine cho Đặng Văn N lấy số tiền 500.000 đồng. Ngoài ra, S còn có hành vi cất giấu 7,84g ma túy Methamphetamine với mục đích bán cho người khác kiếm lời. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamie của bị cáo S có khối lượng với tình tiết định khung hình phạt “có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/12/2024 tại nhà ở của Nguyễn Tiến Đ, ở thôn C, xã T, huyện C, Đ cùng với Đặng Văn N đã có hành vi lấy một phần ma túy trong túi ma túy mua được của Nhữ Văn S hộ Phạm Văn D, sinh năm 1992 với số tiền 500.000 đồng. Sau đó, trong khoảng thời gian từ 21 giờ 30 đến 22 giờ 25 phút cùng ngày, tại phòng bếp nhà Đ, Đ và N đã có hành vi chuẩn bị địa điểm và dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine cho nhau thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chúng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các hành vi mua bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe về tinh thần của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nên xác định hành vi của bị cáo N và Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng đối với từng bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều xác định và thừa nhận đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thì Nguyễn Tiến Đ là người khởi xướng, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để sử dụng ma túy nên giữ vai trò thứ nhất; bị cáo Đặng Văn N chuẩn bị ma túy nên giữ vai trò thứ hai. Đối với bị cáo Nhữ Văn S phải chịu trách nhiệm độc lập đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo N và S đều có nhân thân đã bị Tòa án xét xử và bị Công an ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại thực hiện hành hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên xác định các bị cáo N, S coi thường pháp luật, có nhân thân xấu. Tuy nhiên, các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều khai báo thành khẩn hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo S, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo tích cực tham gia các phong trào do đoàn thanh niên phát động Đoàn thanh niên xã xác nhận nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo trong vụ án.

[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xem xét đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã thực hiện.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản và đều đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

7.1. Đối với 01 (một) bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống nhựa liên kết kim loại màu trắng đen đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly màu trắng (đã qua sử dụng); 42 (bốn mươi hai) vỏ túi nilon màu trắng, miệng, viền túi màu đỏ được để trong hộp bìa catton dán kín đã niêm phong; 01 (một) thùng bìa catton có ghi số 02/KL-KTHS mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K-Công an tỉnh H nguyên niêm phong; 01 (một) phong bì có ghi số 03/KL-KTHS bên trên có ký hiệu T1 mẫu vật hoàn lại sau giám định của phòng K - Công an tỉnh H nguyên niêm phong; 01 (một) phong bì có ghi số 03/KL-KTHS bên trên có ký hiệu T2 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh H nguyên niêm phong. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Đối với 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng bị cáo S đã dùng để quẩn thành ống hút và xúc một phần ma túy đá trong 01 túi nilon cho vào 01 túi nilon khác. Cần, tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

7.2. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen, có số Imeid: 35219266781265; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng, có số Imeid: 355414070701192; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng gold có số Imeid: 357268094830876; Imeid 2: 357268094506856 đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Rc màu đen-vàng có biển kiểm soát 34B1-594.78, cũ đã qua sử dụng. Xét các điện thoại di động nêu trên của 03 bị cáo và chiếc xe mô tô của bị cáo N đều đã được sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ nhà nước theo qui định của pháp luật theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

7.3. Đối với các sim số 0981.572.790; 0334.900.991; 0372.730.789 do các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Xét, cần tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời, yêu cầu doanh nghiệp V2 thu hồi các số thuê bao di động nêu trên theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông và tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền hiện có trong tài khoản thuê bao di động vi phạm pháp luật nêu trên (nếu có).

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo N và S đều thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q. Do vậy, bị cáo N và S không phải nộp; bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Những vấn đề khác:

  • - Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông bán ma túy cho Nhữ Văn S nên không có căn cứ để xử lý;
  • - Bà Nguyễn Thị B là mẹ của Nguyễn Tiến Đ không biết việc Đ cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của mình nên không có căn cứ để xử lý.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đặng Văn N, Nguyễn Tiến Đ và Phạm Văn D, ngày 15/12/2024 Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nhữ Văn S, Công an huyện C đã có Công văn trao đổi với Công an huyện L, tỉnh Bắc Ninh để xử lý theo quy định.
  • - Đối với hành vi tự ý lấy một phần ma tuý trong túi ma tuý của D nhờ Đ và N mua hộ có dấu hiệu của tội Chiếm đoạt trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, do lượng ma tuý chiếm đoạt không còn nên HĐXX kiến nghị Công an tỉnh H xem xét xử lý hành chính đối với hành vi trên của Đ và N theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nhữ Văn S;

Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Đặng Văn N;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với các bị cáo S, Đ, N.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nhữ Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Đặng Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Nhữ Văn S 07 (Bẩy) năm 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/12/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 09/12/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Đặng Văn N 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 09/12/2024.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chúng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống nhựa liên kết kim loại màu trắng đen đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly màu trắng (đã qua sử dụng); 42 (bốn mươi hai) vỏ túi nilon màu trắng, miệng, viền túi màu đỏ được để trong hộp bìa catton dán kín đã niêm phong; 01 (một) thùng bìa catton có ghi số 02/KL-KTHS mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K-Công an tỉnh H nguyên niêm phong; 01 (một) phong bì có ghi số 03/KL-KTHS bên trên có ký hiệu T1 mẫu vật hoàn lại sau giám định của phòng K - Công an tỉnh H nguyên niêm phong; 01 (một) phong bì có ghi số 03/KL-KTHS bên trên có ký hiệu T2 mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh H nguyên niêm phong; sim số 0981.572.790; 0334.900.991; 0372.730.789;

3.2. Yêu cầu doanh nghiệp V2 thu hồi các số sim số 0981.572.790; 0334.900.991; 0372.730.789 theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông và tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền hiện có trong tài khoản thuê bao di động vi phạm pháp luật nêu trên;

3.3. Tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu đen, có số Imeid: 35219266781265; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng, có số Imeid: 355414070701192; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng gold có số Imeid: 357268094830876; Imeid 2: 357268094506856 đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô nhãn hiệu Yamaha Sirius Rc màu đen-vàng có biển kiểm soát 34B1-594.78 cũ đã qua sử dụng.

3.4. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng (nằm trong một trong các thùng bìa catton đã niêm phong);

(Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Đ phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N và S nên không phải nộp.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo (Đ, N, S) được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án hình sự sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng,
  • - VKSND huyện Cẩm Giàng,
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng,
  • - VKSND tỉnh Hải Dương,
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương,
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Luu VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Đạt + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger