TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 10-4-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đời
Ông Nguyễn Kim Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuỳ Dương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20 /2025/TLST - HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Đình Quốc B (tên gọi khác: không), sinh ngày: 08 tháng 02 năm 2003 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: phòng 108, Nhà D, Khu C, thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 19/4/2023. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình T, sinh năm: 1968 và bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1965 cả 02 đều còn sống; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án; Tiền sự: Không; nhân thân: tốt; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an thành phố Đ từ ngày 05/11/2024 (Có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Chị Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm: 1999; HKTT: thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; Tạm trú: số A Đa M, phường K, quận S, TP.Đà Nẵng (Vắng mặt tại phiên toà)
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Anh V, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Tổ I, phường A, quận S, TP.Đà Nẵng (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 05 tháng 11 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Phạm Đình Quốc B vào ứng dụng Telegram trên điện thoại di động của mình liên hệ với 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) có tài khoản Telegram “Quét dọn theo giờ” để mua 02 viên ma túy thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy Ketamine với giá 2.560.000 đồng và hẹn giao ma túy tại ngã tư đường V - N phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus biển kiểm soát 47C1-323.08 đến điểm hẹn gặp một nam thanh niên đi xe mô tô (không rõ lai lịch; không rõ biển kiểm soát xe), B trả 2.560.000 đồng (tiền mặt) và người này chỉ cho B ma túy được bọc trong khẩu trang màu trắng để tại cột điện gần ngã tư. B đến lấy ma túy và cất vào trong túi quần Jean phía trước bên trái và điều khiển xe mô tô đi đến trước quán K tại lô A đường P, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng để thuê phòng hát sử dụng ma túy thì bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố Đ tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật.
* Tang vật tạm giữ (bút lục số 15-16):
- 01 khẩu trang màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu xám và 01 túi ni lông kích thước khoảng (2x2)cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu B1.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, số imei 356772084008410, gắn sim số 0779.454.043, trên thẻ sim có số 8401240812480701.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu vàng-đen, biển kiểm soát 47C1-323.08, số khung: 117610, số máy: 117616.
Tại kết luận giám định số 921/KL-KTHS ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: 02 viên nén màu xám trong mẫu ký hiệu B1a gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu B1a: 1,086gam. Chất tinh thể rắn màu trắng trong mẫu ký hiệu B1b, gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu B1b: 1,474gam (bút lục số 11).
Tiến hành test nhanh cho kết quả: Phạm Đình Quốc B dương tính với ma túy.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Đình Quốc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về TNHS:
- + Tuyên bố bị cáo Phạm Đình Quốc B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Đình Quốc B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điều 47, 48 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật TTHS đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu B1 còn lại sau giám định;
- Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu trang màu trắng;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, số imei 356772084008410, gắn sim số 0779.454.043, trên thẻ sim có số 8401240812480701 (là điện thoại của bị cáo sử dụng tài khoản Telegram để liên hệ mua ma túy);
- Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0779.454.043 của bị cáo dùng vào việc phạm tội;
- -Trả lại cho Nguyễn Thị Ánh N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu vàng-đen, biển kiểm soát 47C1-323.08, số khung: 117610, số máy: 117616.
- - Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” của Phạm Đình Quốc B, ngày 14/11/2024 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp (bút lục số 38).
- Đối với nam thanh niên là người bán ma tuý cho Phạm Đình Quốc B, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, bị cáo xin hứa với HĐXX bị cáo sẽ phấn đấu rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, quyết tâm không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng được triệu tập: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ánh N và người chứng kiến ông Hoàng Anh V. Tuy nhiên những người này đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; Xét những người này đã được cơ quan điều tra ghi lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình Quốc B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 00 giờ ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trước quán K, địa chỉ lô A đường P, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố Đ kiểm tra, bắt quả tang Phạm Đình Quốc B có hành vi tàng trữ 1,086gam ma túy MDMA và 1,474gam ma túy Ketamine nhằm mục đích sử dụng.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Đình Quốc B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Chỉ vì lợi ích bản thân mà bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật, lao vào con đường phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, góp phần gieo rắc những tiềm ẩn bệnh tật, làm suy thoái giống nòi dân tộc, vì vậy HĐXX sẽ xem xét khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian đi nghĩa vụ quân sự tại Lữ đoàn TTG 574 - Quân khu E được xuất ngũ vào năm 2023. Do đó HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS như trên. HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn,
cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội;
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. HĐXX xét thấy bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” của Phạm Đình Quốc B, ngày 14/11/2024 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp
[6] Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu B1 còn lại sau giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu trang màu trắng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, số imei 356772084008410, gắn sim số 0779.454.043, trên thẻ sim có số 8401240812480701 (là điện thoại của bị cáo sử dụng tài khoản Telegram để liên hệ mua ma túy).
- Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0779.454.043 của bị cáo dùng vào việc phạm tội;
- Đối với chị Nguyễn Thị Ánh N là bạn gái của bị cáo, cho bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu vàng-đen, biển kiểm soát 47C1-323.08, số khung: 117610, số máy: 117616 để sử dụng, theo kết quả xác minh chủ chiếc xe nêu trên là chị Nguyễn Thị Ánh N, chị N không biết bị cáo dùng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu vàng-đen, biển kiểm soát 47C1-323.08, số khung: 117610, số máy: 117616 để đi mua ma tuý, nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý chị N là có cơ sở nên HĐXX không đề cập đến. HĐXX trả lại cho chị N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu vàng-đen, biển kiểm soát 47C1-323.08, số khung: 117610, số máy: 117616.
[7] Đối với các đối tượng liên quan:
Đối với nam thanh niên là người bán ma tuý cho Phạm Đình Quốc B, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, do đó đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình Quốc B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình Quốc B 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 05 tháng 11 năm 2024).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu B1 còn lại sau giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu trang màu trắng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, số imei 356772084008410, gắn sim thuê bao điện thoại số 0779.454.xxx, trên thẻ sim có số 8401240812480701.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0779.454.043
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ánh N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu vàng-đen, biển kiểm soát 47C1-323.08, số khung: 117610, số máy: 117616.
(Tất cả những vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa công an quận S, thành phố Đà Nẵng và Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Đình Quốc B phạm tội Trang trữ trái phép chất ma tuý
