Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/KDTM-ST
Ngày 09 - 4 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Võ Hoàng Phi Vân.
  2. Ông Huỳnh Sơn Tây.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2025/TLST-KDTM ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-KDTM ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-KDTM ngày 21/3/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH V. Địa chỉ: số C, tổ E, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Thái Thị N, sinh năm 1991; nơi thường trú: 111/27 Bùi Thị C, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: H N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/10/2024). Có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH B. Địa chỉ: thửa đất số 23, tờ bản đồ số 32, khu phố F, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lu Min H, chức vụ: Tổng giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Trong năm 2023, Công ty TNHH V (sau đây viết tắt là Công ty V) đã bán hàng hóa là ván OKAL (PB) cho Công ty TNHH B (sau đây viết tắt là Công ty B), việc mua bán trên không ký hợp đồng mà chỉ căn cứ vào từng đơn hàng của Công ty B, sau khi giao hàng thì hai bên sẽ đối chiếu công nợ và thanh toán tiền hàng sau khi xuất hóa đơn 30 ngày. Trong tháng 8/2023, Công ty B đã nhiều lần đặt hàng, Công ty V đã giao hàng đầy đủ theo đơn hàng của Công ty B, Công ty V đã gửi bảng chi tiết công nợ và xuất hóa đơn số 105 ngày 31/8/2023 với tổng số tiền hàng là 376.587.166 đồng.

Công ty V nhiều lần yêu cầu thanh toán tiền hàng nhưng Công ty B không thanh toán nên Công ty V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau: Yêu cầu Công ty TNHH B phải thanh toán số tiền nợ gốc là 376.587.166 đồng và yêu cầu tính tiền lãi do chậm thanh toán (tính từ tháng 10/2023 tạm tính đến tháng 10/2024, mức lãi suất 1%) với số tiền lãi là 45.190.459 đồng. Tổng số tiền Công ty TNHH V yêu cầu Công ty TNHH B phải trả cả tiền gốc và tiền lãi tạm tính đến tháng 10/2024 là 421.777.625 đồng.

Sau khi Công ty V nộp đơn khởi kiện, Công ty TNHH B đã trả cho Công ty V số tiền 188.255.083 đồng và hiện nay còn nợ số tiền 188.332.083 đồng.

Tại phiên tòa, Công ty V yêu cầu Công ty TNHH B phải thanh toán số tiền gốc còn nợ là 188.332.083 đồng và thanh toán tiền lãi chậm thanh toán như sau:

Thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tính từ tháng 01/10/2023 tính đến tháng 25/12/2024 (14 tháng 24 ngày), mức lãi suất là 1%/tháng, số tiền lãi là 376.587.166 đồng x 1%/tháng x 14 tháng 24 ngày = 55.734.899 đồng.

Thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tính từ tháng 01/01/2025 tính đến tháng 08/4/2025 (03 tháng 07 ngày), mức lãi suất là 1%/tháng, tính trên số tiềnnợ gốc là 188.255.083 đồng, số tiền lãi Công ty TNHH B phải thanh toán là 2.322.759 đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH B vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định; bị đơn vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH V khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH B thanh toán tiền phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa ván OKAL (PB). Bị đơn Công ty TNHH B có trụ sở tại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 32, khu phố F, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

[2] Tại Công văn số 2807/ĐKKD ngày 27/12/2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B xác định tình trạng pháp lý của Công ty TNHH B đang còn hoạt động. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty B nhưng bị đơn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, bị đơn Công ty B vắng mặt tại tất cả các Tòa án thông báo, triệu tập là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc là 188.332.083 đồng. Xét thấy, giữa Công ty V và Công ty B có quan hệ mua bán hàng hóa, Công ty V bán hàng ván OKAL (PB) cho Công ty B. Việc mua bán được thực hiện căn cứ vào từng đơn đặt hàng của bị đơn, số lượng hàng hóa được xác định theo phiếu giao hàng của của bên bán. Quá trình mua bán, Công ty V đã giao hàng theo đơn hàng của Công ty B và xuất hóa đơn số 105 ngày 31/8/2023 với tổng số tiền hàng là 376.587.166 đồng. Tại Công văn số 300/CTBDU-TTKT1 ngày 22/01/2025 của Cục Thuế tỉnh B xác định tại kỳ thuế Q3/2023 Công ty B có kê khai khấu trừ thuế GTGT đối với hóa đơn 105 ngày 31/8/2023 nêu trên. Sau khi Công ty V khởi kiện, ngày 25/12/2024 Công ty B đã trả cho Công ty V số tiền 188.255.083 đồng, số tiền còn nợ là 188.332.083 đồng. Như vậy, Công ty B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty V là vi phạm nghĩa vụ tại Điều 50, 55 Luật Thương mại. Do đó, Công ty V yêu cầu Công ty B phải thanh toán số tiền gốc là 188.332.083 đồng có căn cứ chấp nhận.

[4] Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi: Công ty V yêu cầu Công ty B thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 01/10/2023 đến ngày 25/12/2024 là 55.734.899 đồng, tiền lãi từ ngày 01/01/2025 đến ngày 08/4/2025 là 2.322.759 đồng.

Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán tiền thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời hạn chậm trả, trừu trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Như vậy phân tích lại mục

[3], Công ty B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty V yêu cầu Công ty B phải thanh toán tiền lãi là có căn cứ chấp nhận.

Theo kết quả xác minh lãi suất nợ quá hạn trung bình tại ba Ngân hàng, cụ thể Ngân hàng P, Ngân hàng thương mại cổ phần S, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì mức lãi suất quá hạn Công ty B phải trả cho Công ty V được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán là 12,8%/năm (tức là 1,1%/tháng). Công ty V yêu cầu 1%/tháng là thấp hơn mức lãi suất chậm thanh toán trung bình của 03 ngân hàng tại thời điểm xác minh của Tòa án nên Hội đồng xét xử áp dụng mức lãi suất 1%/tháng là có lợi hơn cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH V có căn cứ chấp nhận.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

[7] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 92, Điều 147; Điều 227; Điều 244; Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 24, Điều 50, Điều 55 và Điều 306 Luật Thương mại;

Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V đối với Công ty TNHH B về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Buộc Công ty TNHH B có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH V tổng số tiền 246.389.741 đồng (Bằng chữ: Hai trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó tiền nợ gốc là 188.332.083 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi tám triệu ba trăm ba mươi hai nghìn không trăm tám ba đồng) và tiền nợ lãi là 58.057.658 đồng (Bằng chữ: Năm mươi tám triệu không trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Công ty TNHH B phải chịu 12.319.487 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu ba trăm mười chín nghìn bốn trăm tám mươi bảy đồng).

- Hoàn trả Công ty TNHH V số tiền 10.435.553 đồng (Bằng chữ: Mười triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi ba đồng) tạm ứng án phí còn lại theo biên lai thu số 0004839 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/KDTM-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 28/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger