|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày: 09 - 4 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.
Ông Bùi Khắc Thái.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1996 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".
2. Bùi Văn Q, sinh năm 1995 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị H1; Vợ: Đinh Thị T2; Con: có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 12/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
3. Bùi Văn N, sinh năm 1988 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Bùi Văn K1 và bà Quách Thị L; Vợ: Bùi Thị N1; Con: có 03 con. Con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 12/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
4. Nguyễn Văn N2, sinh năm 1990 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 12/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
5. Bùi Văn C, sinh năm 1998 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị H1; Vợ: Vũ Thị Kiều C1; Con: có 02 con, đều sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
6. Bùi Văn G, sinh năm 1992 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị H1; Vợ, con: Chua có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".
7. Bùi Văn K2, sinh năm 1998 tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Bùi Văn T3 và bà Đinh Thị V; Vợ: Bùi Thị T4; Con: có 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
(Có mặt các bị cáo Nguyễn Văn T, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn C, Bùi Văn G, Bùi Văn K2).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vũ Thị L1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
- + Anh Bùi Công M, sinh năm 1997.
- + Anh Vũ Trọng P, sinh năm 2001.
- + Chị Lý Thị T5, sinh năm 1987.
- + Anh Trần Văn B, sinh năm 2001.
- + Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987.
- + Cháu Bùi Minh Q1, sinh năm 2010. Người đại diện của cháu Q1: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987.
(Anh M, anh P, chị T5, anh B, chị H2, cháu Q1 đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 02/9/2024, Nguyễn Văn N2 mời Bùi Văn G và anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã T đến quán bia mang tên “Cu-bon” ở thôn L, xã T, huyện N do chị Vũ Thị L1, sinh năm 1982 trú tại cùng thôn, làm chủ để ngồi uống bia. Một lúc sau thì có Nguyễn Văn T (là em trai Nguyễn Văn N2) và anh Trần Văn B, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã T, huyện N đến quán bia “Cu-bon” của chị L1 để ngồi uống bia tại bàn bên cạnh bàn của N2, G và anh T6. Trong quá trình ngồi uống bia, tại bàn của N2, G và anh T6 thì giữa N2 và G khi nói chuyện có nhắc đến tên bố mẹ của 02 anh em N2, T nên T đã nghe thấy.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, T đi sang bàn bên mời N2, G và anh T6 uống bia nhưng do 03 người đều đã uống nhiều nên không ai uống do đó Thức bực tức, đập cốc bia thủy tinh có dung tích 330ml xuống mặt bàn khiến cốc bia bị vỡ, mảnh vỡ thủy tinh bắn vào khuỷu tay bên phải của G làm Gia bị thương chảy máu. T bỏ về bàn của mình ngồi, lúc này giữa G và T xảy ra việc to tiếng cãi nhau.
Do vẫn bực tức, T mượn xe mô tô của anh B đi về nhà lấy 02 chiếc dao kim loại, gồm: 01 dao phát cỏ có chiều dài 63,5cm, cán gỗ dài 30cm, đường kính cán dao 2,7cm, lưỡi dao kim loại dài 33,5cm, một cạnh sắc, mũi dao cong nhọn và 01 con dao bài, dài khoảng 30cm, cán gỗ tại khu vực sân giếng nhà T với mục đích quay lại quán bia để dùng các hung khí trên đánh nhau với G.
Trong khi thấy G và T đều say và có mâu thuẫn, cãi chửi nhau thì chủ quán bia là chị Vũ Thị L1 đã gọi điện thoại thông báo cho Bùi Văn C (là em trai Bùi Văn G) đến để đón G về tránh việc xô sát. Thời điểm khi C nghe điện thoại của chị L1 thì có Bùi Văn N (là anh họ Bùi Văn G) đến nhà C ngồi chơi nên C đã kể việc G đang mâu thuẫn với T tại quán bia trên, đồng thời C bảo N đến quán bia của chị L1 xem sự việc thế nào, N đồng ý. Khi C và N chuẩn bị đi thì Bùi Văn Q (là em trai Bùi Văn G, anh trai Bùi Văn C ) đi về nhà nên được C, N kể lại sự việc. Sau đó C, N mỗi người điều khiển một xe mô tô đi trước; còn Q vào trong bếp của gia đình mình lấy 01 con dao bài, dài khoảng 30cm, rộng khoảng 05cm rồi một mình điều khiển xe mô tô mang theo chiếc dao với mục đích đi ra quán bia để đánh nhau.
Một lúc sau, khi N2, G và anh T6 đang ngồi thì lần lượt C, Q và N đi đến quán bia của chị L1 gặp G. Lúc này, G kể với C, Q, N về việc bản thân G vừa xích mích với T và vết thương chảy máu trên tay G là do T đập cốc bia vỡ nên mảnh thủy tinh bắn vào tay của G làm G bị thương. Cũng trong lúc này, Bùi Văn K2 (là cháu họ của G, Q, C) một mình đi đến quán bia “Cu-bon” của chị L1 để mua bia về nhà uống, K2 nghe được từ phía người dân là khách ngồi tại quán bia của chị L1 bàn tán, kể chuyện việc G vừa xích mích với T như đã nêu.
Đến khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, T một mình điều khiển xe mô tô mượn của anh B đem theo 02 chiếc dao kim loại có đặc điểm nêu trên quay lại quán bia “Cu-bon”. Khi T đi đến khu vực vị trí ngay trước cửa quán bia thì G nhìn thấy liền chửi T: “Đ.M thằng này đây rồi”. Lúc này, T vừa dừng xe và đang còn ngồi trên xe thì 04 người gồm: Gia, C, Q, N cùng nhau xông đến để đánh Thức. Lúc này K2 thấy T cầm hung khí đến đánh G là chú họ của mình nên đã chạy theo nhóm của G, C, Q, N để cùng tham gia đánh thức. C chạy đầu tiên dùng chân phải đạp 01 cái vào người T, làm T bị ngã khỏi xe và làm rơi 01 con dao phát cỏ xuống mặt đường trước cửa quán bia. Do cùng lúc bị 05 người lao đến đánh nên T lùi lại bỏ chạy từ cửa quán bia ra khu vực đường T, xã T thì bị ngã xuống đường. Thức vừa đứng dậy thì G, C, Q, K2, N đuổi đến cùng nhau xông vào đánh Thức. Trong đó, Bùi Văn G đã dùng tay trái túm cổ T và dùng tay phải đấm 01 cái vào người T, dùng chân trái đá 01 cái vào người T, dùng chân phải đá 01 cái vào người T, dùng hai tay túm vào tay T rồi giật, kéo, dùng tay phải đấm 04 cái vào mặt T, dùng chân phải đá 01 cái vào mặt T và sau cùng chân phải đá 01 cái vào người T; Bùi Văn Q sử dụng chân phải đạp 01 cái lên người Thức, cầm dao bài kim loại, cán gỗ dài khoảng 30cm, bản dao rộng khoảng 5cm giơ lên để chém T nhưng được N2 chạy vào can ngăn, sau đó Q sử dụng chân phải đá 01 cái vào người T; Bùi Văn C sử dụng chân phải đá 01 cái vào người T; Bùi Văn N sử dụng chân phải đạp 01 cái vào người T và Bùi Văn K2 sử dụng chân phải đá 02 cái vào đầu T và đạp 01 cái vào người T. Trong khi đuổi đánh nhau thì cả T, G, C, Q, K2, N đều hò hét, chửi bới, gây náo loạn. Nguyễn Văn T trong khi bị đánh đã làm rơi từ trên tay chiếc dao bài còn lại xuống mặt đường, đồng thời lúc này bản thân T cũng ngã xuống đường và bị thương chảy máu ở đầu gối bên phải, do bị thương nên T không đứng dậy được. Nhìn thấy chiếc dao của T bị rơi thì K2 nhặt lấy cầm trên tay nhưng không sử dụng để đánh ai.
Trong khi N2 nhìn thấy em trai mình là T bị G, C, Q, K2, N đuổi đánh thì N2 chạy vào ngăn cản đồng thời hò hét chửi bới G1, C, Q, K2, N. N2 bị C sử dụng tay phải đấm 01 cái vào cổ, 01 cái vào mặt và 01 cái vào phía sau đầu. Lúc này, N2 bực tức nên đã chạy vào hướng khu vực bếp của quán bia “Cu-bon” với mục đích tìm hung khí để mang ra đánh lại nhóm G1, C, Q, K2, N nhưng bị chị L1 chủ quán ngăn lại nên N2 không vào được trong bếp của quán bia. N2 đi ra đã nhặt được 01 điếu cày bằng tre dài 62,5cm, đường kính 4,5cm ở trong quán bia rồi chạy ra trước cửa quán bia thì gặp N vừa đánh Thức quay lại đứng ở đây, trên tay N lúc này đang cầm 01 dao phát cỏ vừa nhặt được của T làm rơi ở cửa quán bia lúc trước. Thấy vậy, N2 xông đến cầm điếu cày trên tay phải giơ lên cao để vụt N thì N vung dao về phía N2 nhưng chưa trúng, N2 tiếp tục xông đến cầm điếu cày giơ lên để vụt N nhưng chưa vụt được thì N cầm dao vung lên làm cho lưỡi dao sượt qua má trái của N2 làm N2 bị thương chảy máu. Lúc này người dân có mặt đã can ngăn nên N2 và N không tiếp tục xô sát nữa, đồng thời tại vị trí đường thôn L, xã T cũng không có ai tiếp tục đánh Thức nữa. Sau đó N2 ném chiếc điếu cày xuống đường gần cửa quán bia, còn N cầm chiếc dao ném vào vị trí bụi rậm bên đường, đối diện cửa quán bia nhà chị L1.
Sau khi xô sát G1, C, Q, K2, N bỏ ra về. Trên đường đi, K2 vứt chiếm con dao nhặt của T tại khu vực đường T, xã T, huyện N; Q vứt con dao bài bên lề đường tại khu vực đường T, xã T, huyện N.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, chị Vũ Thị L1 đã trình báo Công an xã T, huyện N để giải quyết. Công an xã T, huyện N đã lập biên bản vụ việc và thu giữ 01 điếu cày dài 62,5cm, đường kính 4,5cm và 01 dao phát cỏ kim loại, dài 63,5cm, cán gỗ dài 30cm, đường kính cán dao 2,7cm, lưỡi dao kim loại dài 33,5cm, một cạnh sắc, mũi dao cong, nhọn. Sau đó chuyển tin báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N để tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định, kết quả: Thu giữ tại hiện trường các mảnh thủy tinh vỡ (mảnh vỡ cốc bia) được niêm phong theo quy định.
Sự việc xô xát đánh nhau đã gây thương tích cho các đối tượng gồm: Nguyễn Văn T bị thương gẫy xương bánh chè bên phải đến Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Tam Điệp điều trị từ ngày 02/9/2024 đến ngày 09/9/2024 thì xuất viện; Nguyễn Văn N2 bị thương ở góc hàm trái điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện N từ ngày 02/9/2024 đến ngày 06/9/2024 thì xuất viện; Bùi Văn G bị thương nhẹ ở vùng khuỷu tay bên phải. Đồng thời gây thiệt hại về tài sản tại quán bia “Cu-bon” của chị Vũ Thị L1 vỡ hỏng 01 cốc thủy tinh, dung tích 330ml. Tại kết luận định giá tài sản số 27 ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tại thời điểm xảy ra vụ việc tài sản bị hư hỏng trị giá là 18.000 đồng.
Tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích đối với Nguyễn Văn T, tuy nhiên T, N2 và G đều có đơn xin từ chối giám định thương tích. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định dẫn giải để thực hiện yêu cầu giám định về thương tích đối với những người trên nhưng T, N2 và G đều không ai chấp hành Quyết định dẫn giải, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã lập các biên bản về việc T, N2 và G từ chối dẫn giải theo quy định.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã phát hiện được 01 tệp video có tên “2050802937955751563.mp4", dung lượng 11,2MB lưu trữ tại Camera an ninh lắp trước cửa gia đình nhà anh Nguyễn Công G2, sinh năm 1983 trú tại thôn P, xã T, huyện N (gần khu vực hiện trường) phản ánh diễn biến của vụ án và trích xuất vào 01 đĩa DVD-R để niêm phong vào 01 phong bì theo quy định. Tại bản Kết luận giám định số 23/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 12/12/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp tin video lưu giữ trong đĩa DVD_R gửi giám định”.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSNQ ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự và truy tố các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự và các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Bị cáo Bùi Văn N từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/12/2024.
Bị cáo Nguyễn Văn N2 từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/12/2024.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Bùi Văn Q từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/12/2024.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Bùi Văn G từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo Bùi Văn C từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo Bùi Văn K2 từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 điếu cày dài 62,5cm, đường kính 4,5cm; 01 dao phát cỏ kim loại dài 63,5cm, cán gỗ dài 30cm, đường kính cán dao 2,7cm, lưỡi dao kim loại dài 33,5cm, một cạnh sắc, mũi dao cong, nhọn; các mảnh thủy tinh vỡ được niêm phong theo quy định.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 mỗi bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật là 200.000đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã truy tố. Các bị cáo thừa nhận nội dung truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo mà Kiểm sát viên đã đưa ra là đúng, không oan sai nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo hối hận về hành vi phạm tộicủa mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo :
Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện, đúng như bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các tang vật đã thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 02/9/2024 tại quán bia “Cu-bon” ở thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình do chị Vũ Thị L1, sinh năm 1982 trú tại cùng thôn, làm chủ. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 có hành vi chửi bới, xô sát, đánh nhau, trong đó: Bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng hung khí là 01 dao phát cỏ kim loại và 01 con dao kim loại, loại dao bài để đánh nhau với các bị cáo Q, N, G, C, K2; bị cáo Bùi Văn Q sử dụng hung khí là 01 dao kim loại, loại dao bài để đánh nhau với bị cáo T; bị cáo Bùi Văn N sử dụng hung khí là 01 dao phát cỏ kim loại đánh nhau với bị cáo N2; bị cáo Nguyễn Văn N2 sử dụng hung khí là 01 điếu cày để đánh nhau với bị cáo N; các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 không sử dụng hung khí mà sử dụng chân tay để đánh bị cáo Nguyễn Văn T. Hành vi chửi bới, sử dụng chân tay, hung khí xô sát đánh nhau tại quán bia là nơi kinh doanh đang hoạt động và khu vực đông dân cư nơi có nhiều người sinh sống của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 đã làm đình trệ hoạt động kinh doanh của cơ sở kinh doanh, làm cho người dân hoang mang lo sợ và ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Điều 318: Tội gây rối trật tự công cộng.
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
b, Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa bàn nơi kinh doanh đang hoạt động và khu vực đông dân cư nơi có nhiều người sinh sống gây bất bình trong quần chúng nhân dân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Đây là vụ án đồng phạm có nhiều người tham gia cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự bàn bạc, chuẩn bị gì trước mà xuất phát từ mâu thuẫn bột phát nên không thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức” mà chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó: Bị cáo Nguyễn Văn T là người trực tiếp đập vỡ cốc bia thủy tinh xuống mặt bàn khiến cốc bia bị vỡ, mảnh vỡ thủy tinh bắn vào bị cáo G làm khuỷu tay bên phải của bị cáo G bị thương chảy máu. Sau đó bị cáo T về nhà lấy 01 dao phát cỏ, 01 dao kim loại rồi quay lại quán bia với mục đích quay dùng các hung khí trên đánh nhau với bị cáo G gây nên sự việc trước nên bị cáo T có vị trí, vai trò thứ nhất trong vụ án; các bị cáo Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N khi thấy giữa bị cáo T và bị cáo Gia X ra mâu thuẫn không những không can ngăn mà còn dùng tay chân, hung khí là kim loại như dao bài, dao phát cỏ và điếu cày để đánh nhau nên có vị trí, vai trò thứ hai trong vụ án; bị cáo Bùi Văn G, khi nhìn thấy bị cáo T cầm dao tới trước cửa quán bia “Cu-bon”, bị cáo là người chửi bị cáo T rồi xông đến dùng tay, chân đánh bị cáo T dẫn tới các bị cáo C, Q, N, K2 cùng tham gia đánh bị cáo T nên bị cáo giữ vai trò thứ ba trong vụ án; các bị cáo Bùi Văn C và Bùi Văn K2 sử dụng tay chân để đánh nhau nên có vị trí, vai trò cuối cùng trong vụ án này.
[4]. Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Văn N, Bùi Văn K2 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị cáo Nguyễn Văn T tổng số tiền 35.000.000 đồng; các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Văn N, Bùi Văn K2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản, thiệt hại về hoạt động kinh doanh cho chị Vũ Thị L1 tổng số tiền 1.000.000đồng. Bị cáo T và chị L1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào. Do vậy, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Văn N có bố đẻ là ông Bùi Văn K1 là người có công với cách mạng được Bộ Q2 tặng Huy hiệu chiến sĩ Trường Sơn và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N tặng Bằng khen; các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2 có đóng góp công sức thờ cúng bác ruột là Liệt sĩ Nguyễn Minh Đ đã được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận nên các bị cáo N, T, N2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, các bị cáo ý thức rõ hậu quả hành vi của mình gây ra nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N là nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung đồng thời giúp các bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội chỉ cần cho các bị cáo được hưởng án treo dưới sự giáo dục, quản lý của chính quyền địa phương nơi các bị cáo sinh sống là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Văn N, Bùi Văn K2 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị cáo Nguyễn Văn T tổng số tiền 35.000.000 đồng; các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn Q, Bùi Văn C, Bùi Văn N, Bùi Văn K2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản, thiệt hại về hoạt động kinh doanh cho chị Vũ Thị L1 tổng số tiền 1.000.000đồng. Bị cáo T và chị L1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Trong vụ án này, sau khi sự việc xảy ra Nguyễn Văn T bị thương gẫy xương bánh chè bên phải đến Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Tam Điệp điều trị từ ngày 02/9/2024 đến ngày 09/9/2024 thì xuất viện; Nguyễn Văn N2 bị thương ở góc hàm trái điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện N từ ngày 02/9/2024 đến ngày 06/9/2024 thì xuất viện; Bùi Văn G bị thương nhẹ ở vùng khuỷu tay bên phải. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện N đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích đối với Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2 và Bùi Văn G nhưng T, N2 và G đều có đơn xin từ chối giám định thương tích. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định dẫn giải để thực hiện yêu cầu giám định về thương tích đối với T, N2 và G nhưng không ai chấp hành Quyết định dẫn giải, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã lập các biên bản về việc T, N2 và G từ chối dẫn giải theo quy định và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 chiếc dao kim loại cùng có đặc điểm là loại dao bài, dài khoảng 30cm, rộng khoảng 05cm do Q và K2 đã vứt đi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã lập biên bản truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 điếu cày dài 62,5cm, đường kính 4,5cm; 01 dao phát cỏ kim loại dài 63,5cm, cán gỗ dài 30cm, đường kính cán dao 2,7cm, lưỡi dao kim loại dài 33,5cm, một cạnh sắc, mũi dao cong, nhọn; các mảnh thủy tinh vỡ là công cụ các bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: - Điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn N.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn Q.
- Khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2.
- Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/12/2024.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/12/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N2 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/12/2024.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn G 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/4/2025.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử th ách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/4/2025.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn K2 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/4/2025.
Giao các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Bùi Văn G, Bùi Văn C, Bùi Văn K2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 điếu cày dài 62,5cm, đường kính 4,5cm; 01 dao phát cỏ kim loại dài 63,5cm, cán gỗ dài 30cm, đường kính cán dao 2,7cm, lưỡi dao kim loại dài 33,5cm, một cạnh sắc, mũi dao cong, nhọn; các mảnh thủy tinh vỡ.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N2, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn G, Bùi Văn C và Bùi Văn K2 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH về gây rối trật tự công cộng (hình sự)
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA SỐ 28 NGUYỄN VĂN T CÙNG ĐỒNG PHẠM PHẠM TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
