|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 02-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Lưu Văn Đê.
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Bùi Thị S, sinh năm 1978; nơi sinh, nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1955; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là thứ ba; có chồng là Phạm Văn T1, sinh năm 1976 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. “Có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1976; “vắng mặt”;
- Chị Phạm Thị Vân A, sinh năm 1999; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Thị S và chị Nguyễn Thị Minh C có quen biết nhau. Do cần tiền để buôn bán nên chị C đã nhiều lần vay mượn tiền của bị cáo S với lãi suất thỏa thuận là 2.000đồng/1triệu đồng/01 ngày. Việc trao đổi, giao dịch các nội dung vay mượn tiền và trả lãi giữa chị C và S được thực hiện qua gọi điện thoại, ứng dụng Z và tài khoản ngân hàng. Bùi Thị S sử dụng điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi 9C, vỏ màu đen, không lắp sim, cài đặt ứng dụng Zalo đăng nhập tài khoản tên “Toàn S1” đăng ký bằng số điện thoại 0972.763.xxx và sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB). Chị Nguyễn Thị Minh C sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, vỏ màu vàng, cài đặt ứng dụng Zalo đăng nhập tài khoản tên “Minh C” đăng ký bằng số điện thoại 0364.305.xxx, sử dụng tài khoản số 0831000080403 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N (V - VCB), tài khoản số 6789336666666 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) và tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần H (M1).
Các khoản tiền bị cáo S1 cho chị C vay như sau:
Khoản vay 1:
Ngày 28/7/2023, S1 cho chị C vay 2.000.000.0xxx đồng (Hai tỷ đồng) lãi suất thỏa thuận là 2.000đồng/triệu đồng/ngày, mỗi ngày chị C phải trả lãi cho S1 là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), các đợt thu tiền lãi như sau:
Ngày 07/8/2023, S1 nhắn tin zalo yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.000.000.000 đồng từ ngày 28/7/2023 đến ngày 07/8/2023 là 11 ngày là 44.000.000đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng). Chị C đồng ý và đã chuyển 44.000.000đồng từ tài khoản số 6789336666666 mở tại Ngân hàng M2 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi. Sau khi nhận tiền lãi, do chị C chưa trả tiền gốc nên S1 xác nhận cho chị C tiếp tục vay tiếp số tiền gốc từ ngày 07/8/2023.
Ngày 16/8/2023, S1 tính lãi khoản vay 2.000.000.000 đồng cho chị C từ ngày 07/8/2023 đến ngày 16/8/2023 là 10 ngày là 40.000.000 đồng. Mặc dù biết việc S1 tính lãi như vậy là không đúng nhưng do đang cần vay vốn để làm ăn, buôn bán nên chị C đồng ý trả lãi và đưa số tiền mặt 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) đến nhà trả cho S1. Sau khi nhận tiền lãi, do chị C chưa trả tiền gốc nên S1 xác nhận cho chị C tiếp tục vay tiếp số tiền gốc từ ngày 16/8/2023.
Ngày 25/8/2023, S1 tính lãi khoản vay 2.000.000.000 đồng từ ngày 16/8/2023 đến ngày 25/8/2023 là 10 ngày là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Chị C đồng ý và đã chuyển 40.000.000 đồng từ tài khoản số 6789336666666 mở tại Ngân hàng M2 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi. Sau khi nhận tiền lãi, do chị C chưa có tiền để trả tiền gốc nên S1 xác nhận cho chị C tiếp tục vay tiếp số tiền gốc từ ngày 25/8/2023.
Ngày 06/9/2023, S1 yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.000.000.000 đồng từ ngày 25/8/2023 đến ngày 06/9/2023 là 13 ngày là 52.000.000 đồng. Chị C đồng ý và trả lãi bằng tiền mặt cho S1 tại nhà S1. Sau khi nhận tiền lãi, do chị C chưa có
tiền để trả tiền gốc nên S1 xác nhận cho chị C tiếp tục vay tiếp số tiền gốc từ ngày 06/9/2023.
Ngày 14/9/2023, S1 yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.000.000.000 đồng từ ngày 06/9/2023 đến ngày 14/9/2023 là 09 ngày là 36.000.000 đồng. Chị C đồng ý và đã chuyển 36.000.000 đồng từ tài khoản số 0831000080403 mở tại Ngân hàng V - VCB của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi. Sau khi nhận tiền lãi, chị C chưa trả tiền gốc nên S1 xác nhận cho chị C tiếp tục vay tiếp số tiền gốc từ ngày 14/9/2023.
Ngày 26/9/2023, S1 yêu cầu chị C trả lãi khoản vay 2.000.000.000 đồng từ ngày 14/9/2023 đến ngày 26/9/2023) là 13 ngày là 52.000.000 đồng. Chị C đồng ý và trả lãi bằng tiền mặt cho S1 tại nhà S1. Sau khi nhận tiền lãi, chị C chưa có tiền để trả tiền gốc nên S1 xác nhận cho chị C tiếp tục vay tiếp số tiền gốc từ ngày 26/9/2023. Sau đó, do điều kiện kinh tế khó khăn, chị C chưa thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho S1.
Tại điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N1 quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng đã quy định về nguyên tắc tính lãi như sau: “Thời hạn tính lãi được xác định từ ngày giải ngân khoản cấp tín dụng hoặc ngày nhận tiền gửi đến hết ngày liền kề trước ngày thanh toán hết khoản cấp tín dụng, khoản tiền gửi (tính ngày đầu, bỏ ngày cuối của thời hạn tính lãi) và thời điểm xác định số dư để tính lãi là cuối mỗi ngày trong thời hạn tính lãi”. Như vậy, Bùi Thị S đã tính lãi lặp lại các ngày 07/8/2023, 17/8/2023, 25/8/2023, 06/9/2023, 14/9/2023 đã vi phạm nguyên tắc tính lãi theo quy định của Ngân hàng N1. Tổng số tiền lãi mà bị cáo S đã thu của chị C trong khoản vay này là 264.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi đã thu các ngày tương ứng lãi suất 4.000đồng/01ngày gồm có các ngày: 07/8/2023, 16/8/2023, 25/8/2023, 06/9/2023, 14/9/2023 là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Với thủ đoạn tính lãi trên, Bùi Thị S đã tiếp tục cho chị Nguyễn Thị Minh C vay thêm các khoản tiền sau:
Khoản vay 2:
Ngày 01/8/2023, S cho chị C vay 2.000.000.000đồng (Hai tỷ đồng) tiền mặt, lãi suất 2.000đồng/triệu/ngày, các đợt thu tiền lãi như sau:
Ngày 09/8/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.000.000.000 đồng từ ngày 01/8/2023 đến ngày 09/8/2023 là 09 ngày là 36.000.000 đồng. Chị C đồng ý và đã chuyển 36.000.000 đồng từ tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng M1 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi cho S. Cùng ngày 09/8/2023, S đưa cho chị C vay thêm 500.000.000 đồng tiền mặt gộp với khoản vay trên, xác nhận cho Chị C vay tiếp số tiền 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) tính từ ngày 09/8/2023.
Ngày 18/8/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 09/8/2023 đến ngày 18/8/2023 là 10 ngày là 50.000.000đồng. Chị C đồng ý và đã chuyển 50.000.000 đồng từ tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng M1 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi cho S. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000đồng tính từ ngày 18/8/2023.
Ngày 28/8/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 18/8/2023 đến ngày 28/8/2023 là 11 ngày là 55.000.000 đồng. Chị C đồng ý và đã chuyển 55.000.000 đồng từ tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng M1 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi cho S. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000 đồng tính từ ngày 28/8/2023.
Ngày 07/9/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 28/8/2023 đến ngày 07/9/2023 là 11 ngày là 55.000.000 đồng. Chị C đồng ý và trả lãi cho S bằng tiền mặt. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000 đồng tính từ ngày 07/9/2023.
Ngày 15/9/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 07/9/2023 đến ngày 15/9/2023 là 09 ngày là 45.000.000 đồng. Chị C đồng ý trả cho Sinh tiền lãi: 5.000.000 đồng tiền mặt và chuyển 40.000.000 đồng từ tài khoản số 0831000080403 mở tại Ngân hàng V - VCB của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của S2. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000 đồng tính từ ngày 15/9/2023.
Ngày 25/9/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 15/9/2023 đến ngày 25/9/2023 là 11 ngày là 55.000.000 đồng. Sinh thỏa thuận thanh toán tiền hàng hoa, tráp bánh cưới cho chị C là 24.000.000 đồng nên chị C chuyển 31.000.000 đồng tiền lãi từ tài khoản số 0831000080403 mở tại Ngân hàng V1 - VCB của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của S2. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000 đồng tính từ ngày 25/9/2023.
Ngày 03/10/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 25/9/2023 đến ngày 03/10/2023 là 09 ngày là 45.000.000đồng. Chị C đồng ý và chuyển khoản cho S 02 lần: chuyển 30.000.000đồng và 15.000.000đồng từ tài khoản số 0831000080403 mở tại Ngân hàng V - VCB của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của S2. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000đồng tính từ ngày 03/10/2023. Sau đó, do điều kiện kinh tế khó khăn, chị C chưa thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho Bùi Thị S.
Tổng số tiền lãi mà S đã thu của chị C trong khoản vay này là 341.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi đã thu trong các ngày tương ứng lãi suất 4.000đồng/triệu/ngày (ngày 09/8/2023, 18/8/2023, 28/8/2023, 07/9/2023, 15/9/2023, 25/9/2023) là 58.000.000đồng (Năm mươi tám triệu đồng).
Khoản vay 3:
Ngày 03/8/2023, S cho chị C vay tiếp 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) tiền mặt, lãi suất 2.000đồng/1triệu/01 ngày và lợi dụng trong những ngày thu lãi, chị C không có tiền để trả tiền gốc thì S đã thu lãi trong các ngày như sau:
Ngày 11/8/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.000.000.000 đồng từ ngày 03/8/2023 đến ngày 11/8/2023 là 09 ngày là 36.000.000đồng. Chị C đồng ý, cộng cùng với số tiền hội 16.800.000đồng và đã chuyển 52.800.000đồng từ tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng M1 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi cho S. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.000.000.000đồng tính từ ngày 11/8/2023.
Sau đó, S cho chị C vay thêm các khoản tiền đều với lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày như sau: 100.000.000 đồng (ngày 11/8/2023); 50.000.000 đồng (ngày 13/8/2023); 50.000.000 đồng (ngày 16/8/2023); 230.000.000 đồng (ngày 16/8/2023) và 60.000.000 đồng (ngày 18/8/2023).
Ngày 21/8/2023, S yêu cầu chị C thanh toán lãi các khoản vay:
- + Lãi khoản vay 2.000.000.000 đồng x 2.000đồng/01triệu/01ngày x 11 ngày (từ ngày 11/8/2023 đến ngày 21/8/2023) = 44.000.000 đồng.
- + Lãi khoản vay 100.000.000 đồng x 2.000đồng/triệu/ngày x 11 ngày (từ ngày 11/8/2023 đến ngày 21/8/2023) = 2.200.000đồng.
- + Lãi khoản vay 50.000.000 đồng x 2.000đồng/01triệu/01ngày x 09 ngày (từ ngày 13/8/2023 đến ngày 21/8/2023) = 900.000đồng.
- + Lãi khoản vay 230.000.000đồng x 2.000đồng/01triệu/01ngày x 06 ngày (từ ngày 16/8/2023 đến ngày 21/8/2023) = 2.760.000đồng;
- + Lãi khoản vay 50.000.000đồng x 2.000đồng/triệu/ngày x 06 ngày (từ ngày 16/8/2023 đến ngày 21/8/2023) = 400.000đồng;
- + Lãi khoản vay 60.000.000đồng x 2.000đồng/01triệu/01ngày x 04 ngày (từ ngày 18/8/2023 đến ngày 21/8/2023) = 480.000đồng.
Chị C đồng ý và chuyển tổng cộng 50.740.000đồng (Năm mươi triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền lãi từ tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng M1 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi cho S. Cùng ngày, S chuyển cho chị C vay thêm 10.000.000đồng, gộp với các khoản vay trên, xác nhận cho chị C vay 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) từ ngày 21/8/2023.
Ngày 30/8/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 21/8/2023 đến ngày 30/8/2023 là 10 ngày là 50.000.000 đồng. Chị C đồng ý và đã chuyển 50.000.000đồng từ tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng M1 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi cho S. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000 đồng tính từ ngày 30/8/2023.
Ngày 11/9/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 30/8/2023 đến ngày 11/9/2023 là 13 ngày là 65.000.000 đồng. Chị C đồng ý và đưa số tiền mặt 65.000.000đồng để trả lãi cho S tại nhà S. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000đồng tính từ ngày 11/9/2023.
- Ngày 20/9/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 11/9/2023 đến ngày 20/9/2023 là 10 ngày là 50.000.000 đồng. Cộng với số tiền 30.000.000 đồng là tiền hàng chị C nợ Sinh từ trước nên chị C chuyển 80.000.000đồng từ tài khoản số 6789336666666 mở tại Ngân hàng M2 của chị C đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M2 của Sinh để trả lãi cho S. Sinh tiếp tục cho chị C vay 2.500.000.000đồng tính từ ngày 20/9/2023.
- Ngày 29/9/2023, S yêu cầu chị C trả lãi của khoản vay 2.500.000.000 đồng từ ngày 20/9/2023 đến ngày 29/9/2023 là 10 ngày là 50.000.000 đồng. Sinh đã nhận đủ tiền lãi bằng tiền mặt của chị C mang đến nhà trả cho S. Sinh tiếp tục cho
chị C vay 2.500.000.000đồng tính từ ngày 29/9/2023. Sau đó, do điều kiện kinh tế khó khăn, chị C chưa thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho S.
Tổng số tiền lãi mà Bùi Thị S đã thu của chị Nguyễn Thị Minh C trong khoản vay này là 294.800.000 đồng, trong đó số lãi đã thu trong các ngày tương ứng lãi suất 4.000đồng/01triệu/01ngày (trong các ngày 11/8/2023, 21/8/2023, 30/8/2023, 11/9/2023, 20/9/2023) là 47.960.000đồng (Bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tổng số 7.000.000.000đồng (Bảy tỷ đồng) tiền gốc Bùi Thị S cho chị Nguyễn Thị Minh C vay thì có 206.000.000đồng là tiền S lấy lãi của chị C rồi cho chị C vay tiếp. Đến nay chị C còn nợ tiền lãi và tiền gốc các khoản vay trên. Tổng số tiền lãi S đã thu của chị C đối với các khoản vay là 899.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi mà Sinh thu trong những ngày thu lặp lãi, với lãi suất 4.000đồng/1triệu/01ngày (lãi suất 144%/năm) là 145.960.000 đồng (lãi hợp pháp: 20.372.222, lãi bất hợp pháp: 125.587.778 đồng, cụ thể:
- Ngày 07/8/2023, 16/8/2023, 25/8/2023, 06/9/2023, 14/9/2023, S cho chị C vay số tiền 2.000.000.000đồng/01 ngày đã thu tiền lãi trong một ngày là 8.000.000 đồng, trong đó: Tiền lãi hợp pháp: (20% x 2.000.000.000đồng) : 12 tháng : 30 ngày x 01ngày = 1.111.111 đồng. Lãi bất hợp pháp: 8.000.000đồng - 1.111.111 đồng = 6.888.889đồng/01ngày.
- Ngày 09/8/2023, S cho chị C vay số tiền 2.000.000.000 đồng đã thu tiền lãi ngày 09/8/2023 là 8.000.000đồng. Lãi bất hợp pháp là: 6.888.889 đồng.
- Các ngày 18/8/2023, 28/8/2023, 07/9/2023, 15/9/2023, 25/9/2023 S cho chị C vay số tiền 2.500.000.000đồng/01ngày đã thu tiền lãi trong một ngày là 10.000.000 đồng: Tiền lãi hợp pháp: (20% x 2.500.000.000đồng) : 12 tháng : 30 ngày x 01ngày = 1.388.889 đồng. Lãi bất hợp pháp:10.000.000đồng - 1.388.889đồng = 8.611.111đồng/01ngày.
- Ngày 11/8/2023, S cho chị C vay số tiền 2.000.000.000 đồng đã thu tiền lãi trong một ngày 11/8/2023 là 8.000.000 đồng. Lãi bất hợp pháp là 6.888.889đồng.
- Ngày 21/8/2023, S cho chị C vay số tiền 2.490.000.000 đồng đã thu tiền lãi trong một ngày 21/8/2023, với số tiền lãi 9.960.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp: (20% x 2.490.000.000đồng): 12 tháng: 30 ngày x 01 ngày = 1.383.333đồng. Lãi bất hợp pháp: 9.960.000đồng - 1.383.333 đồng = 8.576.667đồng.
- Các ngày 30/8/2023, 11/9/2023, 20/9/2023, S cho chị C vay số tiền 2.500.000.000đồng/01ngày đã thu tiền lãi trong một ngày là 10.000.000 đồng. Lãi bất hợp pháp là 8.611.111 đồng/01ngày.
Tổng số tiền lãi bất hợp pháp Bùi Thị S chiếm hưởng trái pháp luật là 125.587.778 đồng.
Ngày 27/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Thị S tại xóm A, xã H, huyện H, không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì. Tại cơ quan điều tra Bùi Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, chị Phạm Thị Vân A là con gái của Bùi Thị S tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi 9C, vỏ màu đen, dung lượng 64GB, số IMEI 1: 865834052737091, số IMEI 2: 865834052737109, không lắp SIM là điện thoại của S; ông Phạm Văn T1 là chồng của S tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, vỏ màu trắng, số IMEI 1: 354649160424558, số IMEI 2: 356299880424559, lắp SIM số thuê bao 0915.607.115 và 0972.763.656.
Cơ quan điều tra yêu cầu chị Nguyễn Thị Minh C giao nộp số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng) đã vay của bị cáo Bùi Thị S là vật chứng của vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật nhưng chị C đã sử dụng số tiền trên kinh doanh mua bán chưa thu hồi được và do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa có tiền để nộp.
Chị Nguyễn Thị Minh C đề nghị được nhận lại số tiền lãi mà bị cáo Bùi Thị S đã thu bất hợp pháp của chị C. Cơ quan điều tra yêu cầu Bùi Thị S nộp lại toàn bộ số tiền lãi đã thu của chị C nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bị cáo S chưa có tiền để nộp.
Cáo trạng số 29/CT-VKSHH ngày 14/3/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Bùi Thị S về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thị Sinh T2 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Đề nghị không không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.
Tranh luận tại phiên toà: Bị cáo không tranh luận.
Nói lời sau cùng: Bị cáo công nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu và hứa sửa chữa lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/7/2023, 01/8/2023, 03/8/2023 đến ngày 03/10/2023 tại nhà ở của Bùi Thị S ở xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, S đã cho chị Nguyễn Thị Minh C có cùng xóm vay nhiều lần với tổng số tiền 07 tỷ đồng, lãi suất 2.000đồng/01triệu/01ngày nhưng dùng thủ đoạn thu 02 lần lãi suất trong 01 ngày của một khoản vay, tương ứng với lãi suất là 4.000đồng/1triệu đồng/1ngày (tương đương 144%/năm), trong 16 ngày: 07/8/2023, 09/8/2023, 11/8/2023, 16/8/2023, 18/8/2023, 21/8/2023, 25/8/2023, 28/8/2023, 30/8/2023, 06/9/2023, 07/9/2023, 11/9/2023, 14/9/2023, 15/9/2023, 20/9/2023 và 25/9/2023 với lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự thu lợi bất chính số tiền 125.587.778 đồng. Hành nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo bị mắc bệnh u nang buồng trứng, thoái hóa đốt sống cổ, sức khỏe yếu thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện, thẩm khám theo chỉ định của bác sĩ (có xác nhận của chính quyền địa phương), bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng mà còn xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Bị cáo thông qua các giao dịch thông thường, đơn lẻ, không có biện pháp bảo đảm, bắt chấp rủi ro mà cho vay số tiền lớn, thu lãi cao, thu lợi bất chính. Do đó, để góp phần đấu tranh, loại bỏ tín dụng đen, xét cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Bùi Thị S phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; bản thân bị cáo mắc nhiều bệnh cần phải thẩm khám, điều trị thường xuyên nên có thể tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự để bị cáo có cơ hội được chữa bệnh, lao động, cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và bị cáo tại phiên toà là phù hợp.
[6] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét bị cáo S hiện đang là lao động tự do, không thu nhập ổn định; bản thân bị cáo mắc nhiều bệnh phải thường xuyên khám và chữa tại bệnh viện nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về áp dụng các biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, bị cáo và chị Nguyễn Thị Minh C đều xác định: Tổng số tiền vay gốc bị cáo cho chị C vay là 7.000.000.000đồng (bảy tỷ đồng) có 206.000.000đồng là tiền S lấy lãi của chị C rồi cho chị C vay tiếp, trong đó có 36.166.667 đồng tiền lãi bất hợp pháp và 5.833.335 đồng tiền lãi hợp pháp. Đến nay chị C còn nợ tiền gốc các khoản vay trên. Tổng số tiền lãi bị cáo S đã thu của chị C là 899.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi bị cáo thu trong những ngày thu lặp lãi, với lãi suất 4.000 đồng/1triệu/01ngày (lãi suất 144%/năm) là 145.960.000 đồng, trong đó: lãi hợp pháp là 20.372.222 đồng, lãi bất hợp pháp là 125.587.778 đồng.
Đối trừ nghĩa vụ, buộc: chị C phải có nghĩa vụ nộp số tiền vay gốc chưa trả bị cáo để sung Ngân sách Nhà nước là 6.963.833.333 đồng; bị cáo S phải giao nộp 14.538.887 đồng tiền lãi hợp pháp để sung quỹ nhà nước được trừ đi số tiền 5.000.000 đồng bị cáo đã nộp, bị cáo còn phải tiếp tục giao nộp 9.538.887 đồng và trả cho chị C số tiền lãi bất hợp pháp là 89.421.111 đồng.
[8] Xử lý vật chứng:
Chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, vỏ màu trắng, số IMEI 1: 354649160424558, số IMEI 2: 356299880424559, lắp SIM số 0915.607.115 và 0972.763.656, tạm giữ của ông Phạm Văn T1 là tài sản hợp pháp của ông T1, không liên quan đến việc hiện hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T1 là phù hợp.
Chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi 9C, vỏ màu đen, dung lượng 64GB, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1: 865834052737091, số IMEI 2: 865834052737109 mà bị cáo Bùi Thị S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[9] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi của bị cáo S cho chị C vay các khoản tiền với lãi suất 2.000đồng/01triệu/01 ngày (tương đương từ 72%/năm) là vi phạm hành chính, tuy nhiên kể từ ngày 03/10/2023 đến nay chị Nguyễn Thị Minh C chưa trả tiền gốc và tiền lãi cho bị cáo đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét, xử lý là phù hợp pháp luật.
Ông Phạm Văn T1 là chồng của bị cáo S không được bàn bạc, không biết bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông T1 bằng pháp luật là phù hợp.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Thị S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Minh C được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 05/01/2025.
Giao bị cáo Bùi Thị S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đối với bị cáo Bùi Thị S theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 08/LCCT-TA ngày 14 tháng 3 năm 2025.
3. Về áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự:
- - Buộc bị cáo Bùi Thị S phải trả cho chị Nguyễn Thị Minh C số tiền 89.421.111đ (Tám mươi chín triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn một trăm mười một đồng).
- - Buộc bị cáo Bùi Thị S phải nộp sung ngân sách Nhà nước số tiền 14.538.887₫ (Mười bốn triệu năm trăm ba mươi tám nghìn tám trăm tám bảy đồng) được trừ số tiền 5.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000367 ngày 25 - 3 - 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, bị cáo còn phải nộp là 9.538.887₫ (Chín triệu năm trăm ba mươi tám nghìn tám trăm tám mươi bảy đồng).
- - Buộc chị Nguyễn Thị Minh C phải nộp sung ngân sách Nhà nước số tiền 6.963.833.333đ (Sáu tỷ chín trăm sáu mươi ba triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C, vỏ màu đen, dung lượng 64GB, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1: 865834052737091, số IMEI 2: 865834052737109, không có sim của bị cáo Bùi Thị S.
(Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 28-02-2025).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Bùi Thị S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Xuân |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử bị cáo phạm tội
