|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST.
Ngày: 20-3-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Sa The.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hồng Ứng.
Ông Trần Hoàng Việt.
Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 05/3/2025 đối với bị cáo:
Trương Thị Vũ H, sinh ngày 27/8/1990 tại huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Số nhà H, ấp Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hồng L và bà Vũ Thị Thanh T; có chồng là Lê Tuấn P và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh ngày 13/3/2022); Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2025 cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
Bị hại: Lâm Thị Trúc P1; Sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Tuấn P; Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số nhà H, ấp Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ, ngày 15/11/2024, bị cáo Trương Thị Vũ H đến thăm nhà chị Lâm Thị Trúc P1 ở ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Trong lúc ngồi nói chuyện thì bị cáo bảo mệt trong người nên xin vào ngủ nhờ trong phòng ngủ của chị P1. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, lúc chị P1 gọi con dậy để đi học thì bị cáo cũng thức, nhưng vẫn nằm trong phòng, khi thấy trong phòng không còn ai nên bị cáo đã mở tủ quần áo của chị P1 thì phát hiện có một hộp hình trái tim màu đỏ ở ngăn trên cùng, khi mở ra bị cáo phát hiện bên trong có một sợi dây chuyền kiểu khoen lật cùng mặt dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng 1,6 chỉ vàng; một vòng vàng đeo tay hình tròn, loại vàng 18K, có trọng lượng 4,5 phân và một đôi bông trắng, khi thấy các tài sản trên bị cáo để vào vị trí cũ và ra ngoài đi vệ sinh, sau đó bị cáo quay trở lại phòng, mở tủ quần áo ra lén lút lấy một sợi dây chuyền kiểu khoen lật cùng mặt dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng 1,6 chỉ vàng; một vòng vàng đeo tay hình tròn, loại vàng 18K, có trọng lượng 4,5 phân cho vào túi quần rồi đi ra nói chuyện với gia đình chị P1 sau đó từ giã ra về. Khi về đến chợ M, bị cáo vào tiệm V thuộc ấp C, thị trấn M, huyện M bán số vàng vừa trộm được 7.325.000 đồng, sau khi bán xong tài sản thì bị cáo lấy số tiền nêu trên tiêu xài cá nhân.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 39, ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận một sợi dây chuyền kiểu khoen lật cùng mặt dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng 1,6 chỉ vàng giá trị thành tiền là 8.640.000 đồng; một vòng vàng đeo tay hình tròn, loại vàng 18K, có trọng lượng 4,5 phân giá trị thành tiền là 2.430.000 đồng. Tổng cộng là 11.070 000 đồng (Mười một triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng)
Về thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Do sau khi thu mua vàng từ bị cáo thì chủ tiệm vàng cho nấu chảy và chế tác thành trang sức khác, không nhớ rõ đặc điểm vàng nên Cơ quan điều tra không thu giữ được tang vật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị Vũ H thống nhất với Bản kết luận định giá tài sản số 39, ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T. Bị cáo H khai nhận do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên trong lúc nằm nghỉ trong phòng chị P1, sau khi phát hiện trong tủ quần áo của chị P1 có một sợi dây chuyền kiểu khoen lật cùng mặt dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng 1,6 chỉ vàng và một vòng vàng đeo tay hình tròn, loại vàng 18K, có trọng lượng 4,5 phân nên bị cáo đã lén lút bỏ vào túi quần, sau đó mang đến tiệm V ở chợ M bán được số tiến 7.325.000 đồng.
Trong quá trình điều tra bị hại Lâm Thị T1 P1 trình bày: Chị và bị cáo là bạn học trước đây của nhau, vào khoảng 09 giờ ngày 15/11/2024, trong lúc ngồi nói chuyện với nhau tại nhà của chị ở ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, thì bị cáo bảo mệt trong người, nên chị kêu bị cáo nằm võng nghỉ ngơi, nhưng do bị cáo không quen nằm võng nên chị P1 mới mở cửa phòng ngủ cho bị cáo vào nghỉ ngơi, sau đó đến khoảng 11 giờ 30 phút thì chị cùng con vào ngủ chung với bị cáo. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì chị gọi con dậy đi học, khi đó bị cáo vẫn đang nằm trong phòng. Sau khi đưa con đi học xong, chị quay về thì bị cáo thức dậy và sau đó từ giả ra về. Sau khi bị cáo đi về thì chị có kiểm tra tài sản trong phòng ngủ thì phát hiện bị mất một sợi dây chuyền kiểu khoen lật cùng mặt dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng 1,6 chỉ vàng và một vòng vàng đeo tay hình tròn, loại vàng 18K, có trọng lượng 4,5 phân nên đã trình báo Công an. Hiện nay chị đã được bị cáo bồi thường với tổng số tiền 11.070.000 đồng, nên chị có đơn bãi nại cho bị cáo và không yêu cầu gì khác.
Trong quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Lê Tuấn P trình bày: Anh và bị cáo là vợ chồng, việc bị cáo trộm cắp tài sản của chị Lâm Thị Trúc P1 anh không hay biết, sau khi Công an mời làm việc thì anh mới biết được sự việc. Vào ngày 17/11/2024 anh có mang số tiền 4.000.000 đồng giao cho chị P1 ở ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để khắc phục hậu quả cho bị cáo, số tiền nêu trên là do bị cáo yêu cầu anh mang đến khắc phục hậu quả, nay anh không yêu cầu gì khác.
Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSĐT ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với Trương Thị Vũ H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề luận tội đối với bị cáo Trương Thị Vũ H, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Thị Vũ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt Trương Thị Vũ H từ 06 tháng đến 09 tháng tù và giải quyết về án phí của vụ án; về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị Vũ H xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tư cách tham gia tố tụng đối với anh Lê Tuấn P trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng anh P là người mang số tiền 4.000.000 đồng đi bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả cho bị hại. Xét thấy, anh Lê Tuấn P có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xác định anh P tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[3] Xét sự vắng mặt của bị hại chị Lâm Thị Trúc P1 (có đơn xin vắng mặt) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lê Tuấn P vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo Trương Thị Vũ H đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vào trưa ngày 15/11/2024 bị cáo lén lút chiếm đoạt một sợi dây chuyền kiểu khoen lật cùng mặt dây chuyền bằng vàng, loại vàng 18K, có tổng trọng lượng 1,6 chỉ vàng và một vòng vàng đeo tay hình tròn, loại vàng 18K, có trọng lượng 4,5 phân với tổng giá trị tài sản là 11.070.000 đồng.
[5] Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả đồng thời mong muốn chiếm đoạt được tài sản của bị hại để tiêu xài, do đó lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[6] Từ những nhận xét nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trương Thị Vũ H đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.
[7] Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, bị cáo biết nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nhưng vì tham lam, tư lợi nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, nên cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
[8.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã khắc phục xong hậu quả và được bị hại làm đơn bãi nại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội khi không có tiền án, tiền sự; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng đã xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ này và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[8.3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình trạng trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T diễn ra hết sức phức tạp, các tội phạm về xâm phạm sở hữu có chiều hướng ngày càng tăng và tình trạng "trẻ hóa tội phạm". Do đó qua vụ án này, Hội đồng xét xử cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Do đó yêu cầu của bị cáo đề nghị được hưởng án treo không có cơ sở chấp nhận.
[9] Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, qua xem xét thấy bị cáo hiện nay không có công việc ổn định và không có thu nhập, hiện đang nuôi con nhỏ, nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.
[10] Về xử lý vật chứng: Do Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[11] Đối với ông Tất Minh K là chủ tiệm V do không biết số vàng nêu trên là do bị cáo trộm được nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
[12] Đối với anh Lê Tuấn P đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[13] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[14] Về án phí: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Thị Vũ H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[15] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trương Thị Vũ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trương Thị Vũ H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo để chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Do Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận tiền bồi thường xong và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Trương Thị Vũ H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẠCH THỊ SA THE |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trương Thị Vũ H phạm tội Trộm cắp tài sản, Xử phạt bị cáo H 06 (sáu) tháng tù.
