Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/DS-PT

Ngày 26 tháng 3 năm 2025

“V/v: Tranh chấp lối đi chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng;

Bà Nguyễn Thị Thùy Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 152/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp lối đi chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 15/2025/QĐ-PT ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Khu P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

- Bị đơn: Bà Trương Thị H, sinh năm 1977 và ông Chu Văn P, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Khu P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền của ông P: Bà Trương Thị H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967.
  2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992

    Đại diện theo ủy quyền của ông S, chị L: Bà Nguyễn Thị T.

  3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995
  4. Anh Chu Quang L1, sinh năm 1997
  5. Chị Chu Thị L2, sinh năm 1999

    Đại diện theo ủy quyền của anh L1, chị L2: Bà Trương Thị H.

Đều có địa chỉ: Khu P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

(Bà T, bà H, anh T1 có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T - Là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 2004, bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn S được bố đẻ của ông S là ông Nguyễn Văn D (đã chết) cho đất để làm nhà. Vợ chồng bà sử dụng đất được ông D tặng cho từ năm 2004 đến ngày 28/4/2009 thì được UBND huyện Đ cấp giấy CNQSD đất đối với thửa đất này. Giấy CNQSD đất số AM629508 đứng tên ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T, tại thửa đất số 338, tờ bản đồ số 4, địa chỉ thửa đất khu P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, diện tích đất 240m², trong đó có 60 m² đất ở, 180 m² đất cây LNK. Trong giấy CNQSD đất có sơ đồ thửa đất có ghi “đường vào nhà rộng 3m”. Năm 2009, gia đình bà T đổ bê tông lối đi này. Năm 2023, gia đình bà Trương Thị H, ông Chu Văn P là hàng xóm nhà bà T xây nhà, đã đổ vật liệu lên lối đi này, gia đình bà T không đồng ý. Bà T xác định lối đi này là lối đi riêng vào nhà bà T, bà T không đồng ý cho gia đình bà H, ông P đi lối đi này vì gia đình nhà bà đã đổ bê tông lối đi này. Nay bà T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xác định lối đi này là lối đi riêng của gia đình bà T, không phải lối đi chung. Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã tiến hành thẩm định và định giá ngày 26/4/2024. Bà T, ông S nhất trí với kết quả thẩm định và định giá của Hội đồng định giá.

2. Bị đơn ông Chu Văn P, bà Trương Thị H thống nhất trình bày:

Năm 1996, ông P kết hôn với bà H và sinh sống cùng gia đình ông P tại khu P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Năm 2008 ông P, bà H được bố mẹ ông P sang tên cho ông P, bà H quyền sử dụng đất. Ngày 8/9/2008 ông P, bà H được UBND huyện Đ cấp giấy CNQSD đất số 570162 đối với thửa đất số 290, tờ bản đồ số 4, địa chỉ thửa đất khu P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, diện tích 1219m², trong đó đất ở 150 m², đất cây LNK 1011 m² đứng tên Chu Văn P, Trương Thị H. Trước khi bà H kết hôn với ông P, sinh sống cùng gia đình ông P thì bố mẹ ông P đã ở trên thửa đất hiện nay ông P, bà H đang ở, và sử dụng từ lâu. Lối đi hiện nay gia đình ông P, bà H đang đi vào nhà (hiện đang tranh chấp với gia đình bà T, ông S), là lối đi chung của nhiều gia đình (trong đó có gia đình ông D là bố đẻ ông S), đã hình thành từ lâu, và là lối đi duy nhất. Năm 2009 gia đình bà T, ông S mới được bố ông S (ông D) cắt cho đất nên mới chuyển về làm nhà ở và cũng đi lối đi này, gia đình nhà bà T, ông S ở phía bên trong, gia đình bà H, ông P ở phía bên ngoài. Năm 2023 gia đình bà H, ông P làm nhà, có đổ vật liệu trước cổng nhà, tràn ra lối đi này. Gia đình bà T, ông S không đồng ý nên 2 gia đình có mâu thuẫn cãi nhau, gia đình bà T đã gửi đơn đề nghị UBND xã C giải quyết, UBND xã C đã tiến hành hòa giải, xác định lối đi này là lối đi chung, gia đình bà H, ông P làm nhà có đổ vật liệu ra đường ảnh hưởng đến đường đi chung của các hộ dân, UBND xã đã nhắc nhở và yêu cầu gia đình bà H thu dọn vật liệu, để gọn gàng. Nay gia đình bà T, ông S cho rằng lối đi này là lối đi riêng vào nhà bà T, ông S thì bà H, ông P không đồng ý. Bà H, ông P đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xác định đây là lối đi chung, không phải đường đi riêng nhà bà T, ông S. Bà H, ông P thừa nhận năm 2009 gia đình bà T, ông S làm nhà thì có đổ bê tông lối đi này. Gia đình bà H, ông P tự nguyện hỗ trợ chi phí mà giao đình bà T, ông S đã đổ bê tông trước cổng gia đình nhà bà H, ông P theo giá của Hội đồng định giá. Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã tiến hành thẩm định và định giá ngày 26/4/2024. Bà H, ông P nhất trí với kết quả thẩm định và định giá của Hội đồng định giá.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Văn S (chồng bà T) ủy quyền cho bà T. Ông S đồng ý với yêu cầu khởi kiện và ý kiến của bà T. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xác định lối đi (hiện đang tranh chấp với gia đình ông P, bà H), là lối đi riêng vào nhà ông S, bà T chứ không phải lối đi chung, không đồng ý cho gia đình bà H, ông P đi lối đi này. Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã tiến hành thẩm định và định giá ngày 26/4/2024. Ông S nhất trí với kết quả thẩm định và định giá của Hội đồng định giá.

3.2. Chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn T1 (con bà T, ông S) trình bày: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện và ý kiến của bà T. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xác định lối đi (hiện đang tranh chấp với gia đình ông P, bà H), là lối đi riêng vào nhà ông S, bà T chứ không phải lối đi chung, không đồng ý để gia đình bà H, ông P đi lối đi này. Năm 2009 bố mẹ anh T1, chị L là ông S, bà T làm nhà đã đổ bê tông đoạn đường này, khi đó anh T1, chị L còn nhỏ không có đóng góp gì, chỉ là tiền và công sức của bố mẹ anh, chị là ông S và bà T bỏ ra làm, nên anh T1, chị L không đề nghị gì. Do bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

3.3. Anh Chu Quang L1, Chị Chu Thị L2 (con ông P, bà H) trình bày: Bố mẹ anh, chị là ông P, bà H trước đây ở cùng ông bà nội và được ông, bà nội cho đất làm nhà. Đến năm 2008 được UBND huyện Đ cấp giấy CNQSD đất đứng tên bố mẹ anh, chị là ông Chu Văn P, bà Trương Thị H. Gia đình anh, chị đã sử dụng đất và lối đi chung (hiện đang tranh chấp với gia đình bà T, ông S), từ rất lâu, từ khi anh, chị còn bé đã đi lối đi này, và là lối đi duy nhất của các hộ gia đình trong đó có gia đình nhà anh, chị. Sau này bà T, ông S được bố ông S là ông D cho đất về làm nhà ở sau này. Khi làm nhà gia đình bà T, ông S có đổ bê tông lối đi này, nên cho rằng đó là đường riêng vào nhà bà T, ông S, ngăn cản không cho gia đình bố mẹ anh, chị đi đường này là không đúng. Lối đi này mọi người xung quanh, khu, chính quyền xã đều xác định là lối đi chung. Quan điểm của anh L1, chị L2 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xác định đây là lối đi chung, chứ không phải đường đi riêng nhà bà T, ông S. Do bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 16/8/2024, Tòa án nhân dân (TAND) huyện Đ đã quyết định:

  • - Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 164, Điều 165; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 11, Điều 14 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 236 Luật Đất đai;
  • - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn là ông Chu Văn P, bà Trương Thị H về việc yêu cầu xác định lối đi có diện tích 104,9m². Theo biên bản thẩm định ngày 26/4/2024 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo), là lối đi riêng nhà bà T, ông S.
  2. Xác nhận lối đi có diện tích 104,9m². Theo biên bản thẩm định ngày 26/4/2024 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo). Là lối đi chung trong đó có gia đình bà T, ông S và gia đình bà H, ông P.
  3. Ông Chu Văn P, bà Trương Thị H tự nguyện hỗ trợ chi phí đổ bê tông lối đi chung cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 8.560.000đ (Tám triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên các quyền, nghĩa vụ khác của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/8/2024, bà Nguyễn Thị T kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị T giữ nguyên kháng cáo và đưa ra căn cứ kháng cáo: Bà T cho rằng diện tích lối đi 104,9m² đang tranh chấp hiện nay thuộc quyền sử dụng của gia đình bà vì nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp cho gia đình bà năm 2009.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, xác định lối đi có diện tích 104,9m² thuộc quyền sử dụng của gia đình nhà bà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ bản đồ địa chính năm 2003, lời khai của những người làm chứng và ý kiến trình bày của đại diện UBND xã C, huyện Đ xác định diện tích lối đi 104,9m² là lối đi chung, trong bản đồ địa chính là đường đi do UBND xã quản lý. Bà T kháng cáo cho rằng diện tích lối đi 104,9m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà, tuy nhiên xem xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 629508 do UBND huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T đối với thửa đất số 338, tờ bản đồ số 4, diện tích 240m² thì diện tích lối đi 104,9m² không nằm trong phần diện tích 240m² của ông S, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong giấy chứng nhận ghi đường giao thông. Do vậy, không có căn cứ xác định diện tích lối đi 104,9m² là đất thuộc quyền sử dụng của bà T. Bà T khởi kiện, nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, nên bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà T là đúng quy định của pháp luật, đồng nghĩa với kháng cáo của bà T không được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Bà T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm, tuy nhiên bà T thuộc trường hợp được miễn án phí.

Các nội dung cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm:

Hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án xác định diện tích đất tranh chấp thuộc lối đi chung cho nhiều hộ gia đình cùng sử dụng trong đó có gia đình bị đơn. Toà án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn, nhưng vẫn giải quyết toàn bộ yêu cầu của bị đơn. Việc Toà án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn nhưng vẫn giải quyết trong vụ án là vượt quá yêu cầu theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong trường hợp này lỗi không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện mặc dù Tòa án không thụ lý, nhưng bản án vẫn giải quyết toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, như vậy đảm bảo được quyền lợi cho bị đơn. Xét thấy, việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong cùng vụ án là cần thiết để giải quyết dứt điểm vụ án, Tòa án không thụ lý là vi phạm thủ tục tố tụng, nhưng yêu cầu đó đã được giải quyết đảm bảo được quyền lợi của đương sự. Hơn nữa, quá trình kháng cáo nguyên đơn, bị đơn không kháng cáo nội dung này thể hiện sự nhất trí của nguyên đơn và bị đơn, các bên đương sự đều thống nhất việc giải quyết nội dung nhằm giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi cho bị đơn nên với vi phạm nêu trên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, chỉ cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm trong bản án phúc thẩm là phù hợp. Bản án sơ thẩm giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu được chấp nhận, nhưng bản án không buộc nguyên đơn phải chịu án phí. Tuy nhiên, nguyên đơn là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí. Đối với sai sót này cần rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm.

Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T là phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS H. Đoan Hùng;
  • - TAND H. Đoan Hùng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Điêu Thị Bích Lượt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 28/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T-Trương Thị H- tranh chấp lối đi chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger