Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi và ông Lê Châu Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc với điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam – Khu vực C xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Hồ Ái N, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1990, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T (chết) và bà Võ Thị Kim H, sinh năm 1960; chồng Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1989; có 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2024 cho đến nay tại Phân trại tạm giam – Khu vực C (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Phúc L (Đ), sinh năm 2002; nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  2. Ngô Thị M (S), sinh năm 1965; nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  3. Đỗ Thị Mỹ T1, sinh năm 1971; nơi cư trú: khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);

Người làm chứng:

  • - Nguyễn Thị Trà M1 (vắng mặt);
  • - Tống Tấn Đ1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 11/11/2024, Công an phường N tiến hành kiểm tra Hộ kinh doanh game giải trí (bắn cá, bắn thú) “308”, trên đường số A, thuộc tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang do Nguyễn Thị Trà M1, sinh năm 2003, cư trú tổ A, khóm V, phường C, thành phố C quản lý. Tại thời điểm kiểm tra trong tiệm game có M1, Tống Văn Đ2 và Hồ Ái N. Quá trình kiểm tra phát hiện trong máy game bắn cá số 03 (từ ngoài vào) có 01 hộp nhựa trong suốt, bên trong chứa 04 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng và 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ chứa 09 viên nén màu hồng, in hình vương miện. Tiếp tục kiểm tra giỏ quần áo của Hồ Ái N để ở góc tiệm game phát hiện 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc, N thừa nhận tinh thể màu trắng và 09 viên nén màu hồng là ma túy do N mua của Ngô Thị M, cư trú khóm V, phường N, thành phố C và người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực khóm V, phường N cất giấu để sử dụng thì bị Công an phường N kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tang vật thu giữ: 04 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, bên trong chứa 09 viên nén màu hồng, in hình vương miện; 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể trắng.

Căn cứ Kết luận giám định số 1581/KL-KTHS ngày 17/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A xác định: Mẫu M1, M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng 4,3931 gam; Mẫu M3 gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 4,2547 gam; Mẫu M4 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5744 gam.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSCĐ ngày 14/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Hồ Ái N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Ái N từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố về thời gian, địa điểm và diễn biến về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 11/11/2024, tại game giải trí (bắn cá, bắn thú) “308”, đường số A, thuộc tổ A, khóm V, phường N, thành phố C Hồ Ái N có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy tại máy game bắn cá số 03 (từ ngoài vào) 01 hộp nhựa trong suốt, bên trong chứa 04 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng và 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ chứa 09 viên nén màu hồng, in hình vương miện và trong giỏ quần áo của N để ở góc tiệm game 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng. N thừa nhận tinh thể màu trắng và 09 viên nén màu hồng là ma túy do N mua của Ngô Thị M và người đàn ông (không rõ lai lịch) cất giấu để sử dụng. Kết luận giám định 4,3931 gam ma túy, loại Ketamine; 4,2547 gam ma túy, loại MDMA và 0,5744 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Hồ Ái N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Hồ Ái N là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích cất giấu để sử dụng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội; thuộc thành phần nhân dân lao động; có người thân (mẹ ruột tên Võ Kim H) là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, tội phạm về ma tuý có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác:

- Đối với Đỗ Thị Mỹ T1 và Nguyễn Thị Trà M1 không biết việc Hồ Ái N tàng trữ ma túy tại tiệm game 308, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

- Việc N khai đã mua ma túy của Ngô Thị M. Ngoài lời khai của N và M không thừa nhận thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh M có bán ma túy cho N, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ngô Thị M là có căn cứ.

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N. Do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ Ái N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hồ Ái N: 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/11/2024.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ghi vụ số 1581/KL-KTHS ngày 17 tháng 11 năm 2024, kí hiệu M1 – M3, có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C cùng các chữ ký ghi tên Vũ Quốc H2 và Nguyễn Thị Mỹ H3; 01 (một) phong bì niêm phong ghi vụ số 1581/KL-KTHS ngày 17 tháng 11 năm 2024, kí hiệu M4, có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C cùng các chữ ký ghi tên Vũ Quốc H2 và Nguyễn Thị Mỹ H3.

(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Hồ Ái N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND thành phố (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Phân trại tạm giam Khu vực Châu Đốc (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bood bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger