Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19/3/2025

V/v Kiện chia tài sản sau ly hôn

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Hồ Tùng Mận
  2. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi là Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1002/2023/TLST-HNGĐ ngày 5 tháng 12 năm 2023 về việc “Kiện chia tài sản sau ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXX - ST ngày 18/12/2025 và quyết định hoãn phiên Toà ngày 12/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị V, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Hẻm A T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn C (có mặt)

Địa chỉ: Số E đường A, Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

Bị đơn: Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: A N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh Đ1
  2. Đại diện theo ủy quyền: Bà Mai Thị Kim P (có đơn xin vắng mặt)

    Địa chỉ: 146 Hoàng Diệu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

  3. Ông Trần Đình  (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 107/36 Nguyễn Phúc Chu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

  5. Ông Y Win Ê và ông Y Nguôn Ê1 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Buôn Niêng 2, xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

  7. Bà H Mrai N, bà H Mit N1 và bà H Luit N2 (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Buôn Niêng 2, xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

  9. Ông Nguyễn Trọng Đ (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: C P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Trước đây bà V và ông Đỗ Văn B là vợ chồng, nhưng do cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên bà V và ông B đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 240/2023/QÐST-HNGĐ ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên về phần tài sản thì hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng sau khi ly hôn bà V và ông B không thỏa thuận, thống nhất được việc chia tài sản chung vợ chồng.

Trong quá trình chung sống bà V và ông B có tạo lập được các tài sản sau:

  1. Bà V và ông B có nhận chuyển nhượng của ông Trần Đình  một lô đất có chiều rộng là 19m x chiều dài 25m= 475m2 thuộc thửa đất số 773, tờ bản đồ số 04, diện tích 2517,7m2 tọa lạc tại TDP F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Đình Â; Giấy tờ mua bán tay và chưa làm thủ tục tách thửa đứng tên bà V, ông B
  2. Thửa đất số 57,58,59,60,61,62 tờ bản đồ số 27 diện tích 12556m2 tọa lạc tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 470394, do UBND huyện B cấp ngày 30/8/2013 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V. Hiện tài sản này đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP K- Chi nhánh Đắk Lắk
  3. Nhà và đất thuộc thửa đất số 429, tờ bản đồ số 31, diện tích 194m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sô BB 221387 do UBND huyện B cấp ngày 26/4/2010 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V
  4. Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 31 diện tích 4567m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số K 523619 do UBND huyện B cấp ngày 30/6/1997 đứng tên ông Y Nguôn Ê1. Giấy tờ mua bán viết tay, hiện chưa làm thủ tục đứng tên bà V và ông B
  5. Xe ô tô tải K165-MBB, nhãn hiệu THACO, sản xuất năm 2015, biển kiểm soát 47C-103.92.

Ngày 27/3/2024 Bà V có đơn xin rút phần yêu cầu chia tài sản là Xe ô tô tải K165-MBB, nhãn hiệu THACO, sản xuất năm 2015, biển kiểm soát 47C-103.92.

Nay bà Vũ Thị V yêu cầu Tòa án giải quyết chia toàn bộ tài sản chung vợ chồng cho bà V và ông B theo quy định của pháp luật, mỗi người nhận ½ giá trị.

Về nợ chung: Tôi đồng ý với ý kiến của ông B là ông B có trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Đỗ Văn B trình bày:

Tôi và bà Vũ Thị V là vợ chồng, nhưng do cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên bà V và tôi đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 240/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên về phần tài sản thì hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình chung sống bà V và tôi có tạo lập được các tài sản sau:

  1. Bà V và tôi có nhận chuyển nhượng của ông Trần Đình  một lô đất có chiều rộng là 19m x chiệu dài 25m= 475m2 thuộc thửa đất số 773, tờ bản đồ số 04, diện tích 2517,7m2 tọa lạc tại TDP F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Đình Â; Giấy tờ mua bán tay và chưa làm thủ tục tách thửa đứng tên bà V, ông B
  2. Thửa đất số 57,58,59,60,61,62 tờ bản đồ số 27 diện tích 12556m2 tọa lạc tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 470394, do UBND huyện B cấp ngày 30/8/2013 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V. Hiện tài sản này đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP K- Chi nhánh Đắk Lắk
  3. Nhà và đất thuộc thửa đất số 429, tờ bản đồ số 31, diện tích 194m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sô BB 221387 do UBND huyện B cấp ngày 26/4/2010 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V. Hiện tài sản này đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP K- Chi nhánh Đắk Lắk
  4. Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 31 diện tích 4567m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số K 523619 do UBND huyện B cấp ngày 30/6/1997 đứng tên ông Y Nguôn Ê1. Giấy tờ mua bán viết tay, hiện chưa làm thủ tục đứng tên bà V và ông B.
  5. Xe ô tô tải K165-MBB, nhãn hiệu THACO, sản xuất năm 2015, biển kiểm soát 47C-103.92

Những tài sản này là tài sản chung của vợ chồng.

Trong quá trình chung sống, số tiền kinh doanh của gia đình là bà Vi giữ hết trong 7 năm với số tiền 6.500.000.000 đồng. Ba năm kinh doanh tạp hóa bà V không kê khai tài chính. Số tiền này bà V giữ hết khoảng 450.000.000 đồng. Vậy tổng số tiền mà bà V giữ hết của gia đình là 6.950.000.000 đồng. Tôi yêu cầu bà V công khai tài chính này cho rõ ràng thì tôi đồng ý chia tài sản nhưng tôi yêu cầu được chia là 4 phần, tôi, bà V và 2 con mỗi người một phần bằng nhau.

Đối với nợ chung: Tôi sẽ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng và không yêu cầu bà V trả nợ này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng TMCP K- Chi nhánh Đ1 trình bày:
  2. Vào ngày 16/12/2021, ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V có ký hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 755/21/HĐHM/0700-12689, ngày 18/12/2021 ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V ký hợp đồng tín dụng từng lần với Ngân hàng TMCP K để vay vốn tín dụng với nội dung như sau: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: 60 tháng (từ ngày 18/12/2021- ngày 18/12/2026). Để đảm bảo cho khoản cấp tín dụng tại Ngân hàng TMCP K, ông B và bà V đã ký hợp đồng thế chấp số 755/21/HĐTC-BĐS/0700-12689 ngày 16/12/2021 thế chấp tài sản là Bất động sản theo giấy chứng nhận QSD đất số BB 221387 do UBND huyện B cấp ngày 26/4/2010 và Giấy chứng nhận QSD đất số BK 470394 do UBND huyện B cấp ngày 30/8/2013. Đến ngày 7/3/2025, ông B và bàVi còn nợ N4 số tiền như sau: Nợ gốc: 100.000.000 đồng, nợ lãi: 1.020.274 đồng

    Nay bà V yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung giữa bà V và ông B thì Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng TMCP K. (Ngân hàng không khởi kiện độc lập)

  3. Ông Trần Đình  trình bày:
  4. Trước đây tôi là chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất số 773, tờ bản đồ 04, diện tích 2.517,7m tọa lạc tại tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên tôi. Vào ngày 13/3/2019 tôi có chuyển nhượng một phần diện tích đất bao gồm cả phần đường đi chung với tổng diện tích là 2.010,4m cho ông Đinh Huy T, ông Đỗ Văn B và ông Nguyễn Trọng Đ. Các bên có lập giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/3/2019.

    Trong đó ông Đỗ Văn B nhận chuyển nhượng 19mx25m = 475m2 trong tổng 2.010,4m2 mà tôi đã chuyển nhượng, giá chuyển nhượng là 250.000.000 đồng, số tiền này tôi đã nhận đủ và không tranh chấp gì, đất đã bàn giao trên thực tế.

    Theo thỏa thuận trong giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/3/2019 các bên thống nhất để ông Nguyễn Trọng Đ đứng tên trên toàn bộ phần diện tích đất mà tôi đã chuyển nhượng cho ông B, ông Đ và ông T nên tôi và ông Đ đã hoàn tất thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hoàn tất thủ tục tách thửa. Hiện nay, phần đất tôi đã chuyển nhượng đang đứng tên ông Nguyễn Trọng Đ nên tôi không còn quyền lợi và nghĩa vụ gì. Tôi xét thấy tôi không còn liên quan gì tới vụ án nên tôi xin từ chối tham gia tố tụng.

  5. Ông Nguyễn Trọng Đ trình bày:
  6. Vào ngày 13/3/2019 tôi có chuyển nhượng của ông  diện tích đất bao gồm cả phần đường đi chung với tổng diện tích là 2517,7m2, trong đó diện tích đất của ông B là khoảng 475m2, do diện tích đất nhỏ nên chúng tôi vẫn chưa tách bìa để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay ông B và bà V kiện chia tài sản này chúng tôi đồng ý giao lại đất cho ông B và bà V và không tranh chấp gì.

  7. Ông Y Nguôn Ê2 ban trình bày:
  8. Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 31 diện tích 4567m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số K 523619 do UBND huyện B cấp ngày 30/6/1997 đứng tên tôi là Y Nguôn Ê1. Năm 2021 tôi có làm giấy viết tay bán cho ông B và bà V diện tích đất 3253,3m², số tiền 1.400.000.000 đồng, hiện chưa sang tên đổi chủ, tôi đã nhận đủ tiền và giao đất cho ông B và bà V quản lý. Nay các bên tranh chấp tôi không có quyền lợi gì trong thửa đất này nữa.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột phát biểu như sau:

Về tố tụng:

Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của BLTTDS, tại phiên tòa HĐXX và các đương đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Căn cứ các Điều 26, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều các Điều 38, 59, 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 26, điều 27 nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Đề nghị HĐXX Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện chia tài sản sau ly hôn của bà Vũ Thị V.

Giao cho bà Vũ Thị V quản lý và sử dụng các tài sản sau:

  • Diện tích đất 379,2m² nằm một phần trong thửa đất số 773, tờ bản đồ số 04, diện tích 2517,7m2 tọa lạc tại TDP F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mang tên ông Trần Đình  có tứ cận như sau:

Phía tây giáp đường bê tông dài 20m; Phía nam giáp thửa đất 924 dài 18,99m; Phía đông giáp thửa đất 923 dài 20m; Phía bắc giáp 923 dài 18,94m. Trị giá đất là 1.600.000.000 đồng, tài sản trên đất có 03 trụ bê tông (các đương sự không yêu cầu định giá).

  • Diện tích 3253.3m² nằm một phần trong thửa đất số 402, tờ bản đồ số 31 diện tích 4567m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số K

523619 do UBND huyện B cấp ngày 30/6/1997 đứng tên ông Y Nguôn Ê1 có tứ cận (đo đạt thực tế ngày 1/2/2024) như sau:

Phía tây giáp thửa đất 909; Phía nam giáp đường bê tông; Phía đông giáp thửa đất 898. Phía bắc giáp thửa đất 890 và thửa đất 874. Có giá trị 606.060.000 đồng. Tài sản trên không có:

Tổng giá trị tài sản giao cho bà V giá trị 2.206.060.000 đồng.

Bà Vũ Thị V được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

+ Giao cho ông Đỗ Văn B tài sản sau:

  • Thửa đất số 57,58,59,60,61,62 tờ bản đồ số 27 diện tích 12556m2 tọa lạc tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 470394, do UBND huyện B cấp ngày 30/8/2013 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V có tứ cận như sau: Phía tây giáp thửa đất 55; Phía nam giáp thửa đất 65,66; Phía đông giáp thửa đất 63. Phía bắc giáp đường đất nhỏ. Có giá trị: 2.260.080.000 đồng.

Tài sản trên gồm có: 1 ao cá có giá 36.456.000 đồng; 1 cây gỗ sao có giá 44.900 đồng; 12 cây gỗ hương có giá 1.000.000 đồng; 1 cây xoan có giá 48.500 đồng; 1 cây ổi có giá 66.400 đồng; 01 cây trứng cá có giá 48.500 đồng; 42 trụ bê tông có giá 504.000 đồng; 588 cây cà phê (cây cà phê đã được định giá theo giá thị trường cùng với diện tích đất) và 01 căn nhà có diện tích 17,6m² (nhà tạm canh cà phê các đương sự không yêu cầu định giá); tổng cộng đất và tài sản trên đất là 2.298.248.300 đồng

  • Thửa đất số 429, tờ bản đồ số 31, diện tích 194m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sô BB 221387 do UBND huyện B cấp ngày 26/4/2010 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V có tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ 1; Phía nam giáp đường đất; Phía đông giáp thửa đất 202. Phía bắc giáp thửa đất 202. Có giá trị: 1.648.000.000 đồng.

Tài sản trên gồm có: 1 căn nhà diện tích 104m² giá 72.910.000 đồng; 01 căn nhà diện tích 93,5m² giá 62.653.000 đồng; 01 mái che 5.050.000 đồng. Tổng cộng đất và tài sản trên đất là 1.788.613.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản giao cho ông B giá trị 4.086.861.300 đồng.

Ông Đỗ Văn B bù chênh lệch tài sản cho bà Vũ Thị V số tiền là 940.400.650 đồng.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện chia tài sản là chiếc xe ô tô Xe ô tô tải K165-MBB, nhãn hiệu THACO, sản xuất năm 2015, biển kiểm soát 47C-103.92.

Xét yêu cầu chia Tài sản của các con chung: Các tài sản đều do vợ chồng ông B và bà V tạo lập lên, các con chung của ông B đều xác định không có đóng góp vào khối tài sản chung này và không yêu cầu xem xét công sức đóng góp nên không giải quyết.

Đối với yêu cầu xem xét số tiền kinh doanh trong 07 năm, ông B cho rằng bà V đang quản lý là 6.950.000.000 đồng, ông B yêu cầu bà V công khai số tiền nay chi tiêu như thế nào, bà V không công nhận, quá trình điều tra và tại phiên Toà ông B không đưa ra được chứng cứ tài liệu liên quan đến số tiền thu nhập trong quá trình kinh doanh là 6.950.000.000 đồng do vậy không có căn cứ đề xem xét.

Đối với số tiền nợ ngân hàng K chi nhánh Đ1, hiện nay còn nợ 101.120.274 đồng, đây là khoản nợ chung của ông B và bà V, ngân hàng không khởi kiện độc lập. Do vậy cần tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.

[3] Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ các Điều 26, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều các Điều 38, 59, 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 26, điều 27 nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện chia tài sản sau ly hôn của bà Vũ Thị V.

Giao cho bà Vũ Thị V quản lý và sử dụng các tài sản sau:

  • Diện tích đất 379,2m² nằm một phần trong thửa đất số 773, tờ bản đồ số 04, diện tích 2517,7m2 tọa lạc tại TDP F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mang tên ông Trần Đình  có tứ cận như sau:

Phía tây giáp đường bê tông dài 20m; Phía nam giáp thửa đất 924 dài 18,99m; Phía đông giáp thửa đất 923 dài 20m; Phía bắc giáp 923 dài 18,94m. Trị giá đất là 1.600.000.000 đồng, tài sản trên đất có 03 trụ bê tông (các đương sự không yêu cầu định giá).

  • Diện tích 3253.3m² nằm một phần trong thửa đất số 402, tờ bản đồ số 31 diện tích 4567m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số K 523619 do UBND huyện B cấp ngày 30/6/1997 đứng tên ông Y Nguôn Ê1 có tứ cận (đo đạt thực tế ngày 1/2/2024) như sau:

Phía tây giáp thửa đất 909; Phía nam giáp đường bê tông; Phía đông giáp thửa đất 898. Phía bắc giáp thửa đất 890 và thửa đất 874. Có giá trị 606.060.000 đồng. Tài sản trên không có:

Tổng giá trị tài sản giao cho bà V giá trị 2.206.060.000 đồng.

Bà Vũ Thị V được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

+ Giao cho ông Đỗ Văn B tài sản sau:

  • Thửa đất số 57,58,59,60,61,62 tờ bản đồ số 27 diện tích 12556m2 tọa lạc tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 470394, do UBND huyện B cấp ngày 30/8/2013 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V có tứ cận như sau: Phía tây giáp thửa đất 55; Phía nam giáp thửa đất 65,66; Phía đông giáp thửa đất 63. Phía bắc giáp đường đất nhỏ. Có giá trị: 2.260.080.000 đồng.

Tài sản trên gồm có: 1 ao cá có giá 36.456.000 đồng; 1 cây gỗ sao có giá 44.900 đồng; 12 cây gỗ hương có giá 1.000.000 đồng; 1 cây xoan có giá 48.500 đồng; 1 cây ổi có giá 66.400 đồng; 01 cây trứng cá có giá 48.500 đồng; 42 trụ bê tông có giá 504.000 đồng; 588 cây cà phê (cây cà phê đã được định giá theo giá thị trường cùng với diện tích đất) và 01 căn nhà có diện tích 17,6m² (nhà tạm canh cà phê các đương sự không yêu cầu định giá); tổng cộng đất và tài sản trên đất là 2.298.248.300 đồng

  • Thửa đất số 429, tờ bản đồ số 31, diện tích 194m2 tọa lạc tại Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sô BB 221387 do UBND huyện B cấp ngày 26/4/2010 đứng tên ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị V có tứ cận như sau: Phía tây giáp đường tỉnh lộ 1; Phía nam giáp đường đất; Phía đông giáp thửa đất 202. Phía bắc giáp thửa đất 202. Có giá trị: 1.648.000.000 đồng.

Tài sản trên gồm có: 1 căn nhà diện tích 104m² giá 72.910.000 đồng; 01 căn nhà diện tích 93,5m² giá 62.653.000 đồng; 01 mái che 5.050.000 đồng. Tổng cộng đất và tài sản trên đất là 1.788.613.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản giao cho ông B giá trị 4.086.861.300 đồng.

Ông Đỗ Văn B bù chênh lệch tài sản cho bà Vũ Thị V số tiền là 940.400.650 đồng.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện chia tài sản là chiếc xe ô tô Xe ô tô tải K165-MBB, nhãn hiệu THACO, sản xuất năm 2015, biển kiểm soát 47C-103.92.

Tách khoản nợ của ngân hàng TMCP K chi nhánh Đ1, để giải quyết bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

2. Về án phí: Bà Vũ Thị V phải chịu 94.929.213 đồng án phí DSST được khấu trừ số tiền 13.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số AA/2023/0004450 ngày 29/11/2023 còn phải nộp 81.929.213 đồng.

Ông Đỗ Văn B phải chịu 94.929.213 đồng án phí DSST.

Về chi phí tố tụng: Bà Vũ Thị V và ông Đỗ Văn B phải chịu 13.494.000 đồng, chi phí định giá, thẩm định tại chỗ, đo vẽ kỹ thuật thửa đất, mỗi người chịu 6.747.000 đồng, được khấu trừ số tiền bà V đã nộp tại Tòa án. Hoàn trả cho bà Vũ Thị V số tiền 6.747.000 đồng sau khi thu được của ông Đỗ Văn B.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về kiện chia tài sản sau ly hôn

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện chia tài sản sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản sau ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger