Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-PT

Ngày: 18-3-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Công Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 227/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị L và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Lê Thị L, sinh năm 1978 tại Quảng Bình, nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã P, huyện L, Lâm Đồng, chỗ ở hiện nay: Tổ 11 thôn Đ, xã H, huyện Đ, Lâm Đồng, quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, trình độ học vấn: 7/12, nghề nghiệp: Buôn bán; con ông: Lê Đức T (đã mất); con bà: Nguyễn Thị L1; chồng: Nguyễn Văn H, sinh năm 1975, con: có 03 người con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 15/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại. Có mặt.
  2. Nguyễn Cảnh N, sinh năm 1993 tại Nghệ An, nơi ĐKHKTT và cư trú: Số A K, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, trình độ học vấn: 9/12, nghề nghiệp: Lái máy đào; con ông: Nguyễn Cảnh Q (Đã mất); con bà: Nguyễn Thị N1; vợ: Phan Thị Hồng N2, sinh năm 1995, con: có 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH T2, địa chỉ: Số A, đường T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng V - Giám đốc công ty. Vắng mặt.

Trong vụ án này còn có các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Cảnh Q1 là tài xế lái máy múc của Công ty Thông Nữ được giao xe thi công trong giờ hành chính, hết giờ làm việc phải đưa xe vào bãi tập kết của công ty để quản lý đang thi công tại công trình Trung tâm hành chính huyện Đ thuộc Tổ C, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vào khoảng 17 giờ ngày 06/4/2024 Q1 gọi điện cho Lê Thị L, sinh năm 1978 trú tại H, Đ, Lâm Đồng để bàn bạc về việc lấy trộm dầu và bán lại cho L thì L đồng ý và hẹn vào tối sẽ thực hiện. Đến khoảng 19 giờ khi đi L chuẩn bị các can nhựa rồi nhờ Bùi Ngọc H1 điều khiển xe ô tô biển số 21A – 03362 của gia đình L xuống chỗ Quyền chỉ để chở dầu trộm và được H1 đồng ý. Khi vào khu vực công trình thì L yêu cầu Hoàng tắt đèn xe và L dùng đèn pin rọi đường để H1 điều khiển xe đi vào khu vực Q1 để xe máy đào theo chỉ dẫn của Q1. Khi vào tới chỗ tập kết xe máy đào của công trường H1 điều khiển xe lại gần cách xe máy đào khoảng 3-4m, lúc này Q1 đang đứng cạnh xe máy đào đợi sẵn. L xuống xe mở cốp sau lấy 04 can nhựa từ xe biển số 21A – 03362 đưa cho Q1, Q1 lấy can rồi lên chỗ tiếp dầu của xe máy đào hiệu H2 và sử dụng ống nhựa màu xanh dài khoảng 03m một đầu có nối với 01 ống nhựa cứng dài 01m có sẵn trên xe máy đào rồi tiến hành hút dầu vào từng chiếc can nhựa. Khi hút đầy mỗi can nhựa thì Q1 chuyển xuống đất cho L và L xách lên bỏ sau cốp xe ô tô của L. Qúa trình Q1 và L hút dầu tại xe máy đào thì Bùi Ngọc H1 vẫn ngồi ở xe của L chứng kiến toàn bộ sự việc. Khi Q1 và L hút đầy can dầu thứ 4 đưa xuống cho L thì bị bảo vệ công trình và lực lượng Công an huyện Đ bắt quả tang.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/KL – HĐĐG ngày 13/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Đ xác định: 04 can nhựa trong mỗi can có 30 lít dầu Diesel 0,05 S-II tương đương 120 lít dầu Diesel 0,05 S-II có giá trị thành tiền là 2.566.800 đồng (hai triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm ngàn đồng).

Qúa trình mở rộng điều tra vụ án xác định: trong quá trình vận hành máy đào thi công tại Công trường thuộc Tổ 34, TT. L, Đ, Nguyễn Cảnh N đã nảy sinh ý định trộm dầu Diesel trong xe máy múc của Công ty Thông Nữ mang đi bán. Vào ngày 27/03/2024, N liên hệ với bà Lê Thị L để bàn bạc về việc lấy trộm dầu và bán lại cho bà L kiếm tiền tiêu xài cá nhân, bà L đồng ý và hẹn tối ngày 27/03/2024 thực hiện. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bà L nhờ Bùi Ngọc H1 điều khiển xe ô tô biển số 21A – 03362 đến công trường theo sự hướng dẫn của N. Tại đây, L lấy trong xe ô tô 02 can nhựa loại 30lít đưa cho N. Sau đó, N đi đến vị trí máy đào sử dụng ống nhựa có sẵn để hút đầy 02 can dầu Diesel trên, và xách 01 can nhựa loại 30 lít có chứa sẵn khoảng 20 lít nhớt thuỷ lực mà N đã lấy trộm trước đó xuống dưới đất cùng với 02 can nhựa chứa dầu Diesel. N tiếp tục đến vị trí máy đào của Nguyễn Cảnh Q1 xách 03 can nhựa loại 30 lít chưa đầy dầu Diesel mà trước đó Q1 đã rút trộm dầu của xe máy đào do Quyền vận hành và nhờ N mang bán dùm đến vị trí cùng những can dầu mà N đã trộm được. Sau đó, N cùng bà L xách 06 can nhựa chứa dầu Diesel và nhớt thuỷ lực đến vị trí xe ô tô, bà L trực tiếp khiêng 06 can nhựa trên để phía sau cốp xe ô tô rồi lên xe ô tô rời đi. Đến sáng ngày 28/03/2024, N nhận được số tiền bán dầu Diesel và nhớt thuỷ lực là 2.640.000 đồng từ bà L. Sau đó, N đưa 1.300.000 đồng cho Quyền (BL 65 – 144, 150 – 168, 174 – 187, 194 – 206, 212 – 226, 227 - 238).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/KL – HĐĐG ngày 28/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Đ xác định: 05 can nhựa trong mỗi can có 30 lít dầu Diesel 0,05 S-II tương đương 150 lít dầu Diesel 0,05 S-II có giá trị thành tiền là 3.214.500 đồng (ba triệu hai trăm mười bốn ngàn năm trăm đồng), 01 can nhựa bên trong có chứa 20 lít nhớt máy có giá trị thành tiền là 1.487.000 đồng (một triệu bốn trăm tám mươi bảy ngàn đồng). Tổng cộng là: 4.701.500 đồng (bốn triệu bảy trăm lẻ một ngàn năm trăm đồng).

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, CQĐT đã thu giữ :

  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi biển số 21A – 03362.
  • - 10 can nhựa dung tích 30 lít bên trong có chứa dung dịch lỏng (dầu).
  • - 10 can nhựa dung tích 30 lít bên trong không có gì
  • - 01 đoạn ống nhựa màu xanh dài 5m.
  • - 01 đoạn ống nhựa màu xanh dài 3,2m, một đầu gắn ống nhựa dài 1m.
  • - 01 khay nhựa tự chế.
  • - 05 điện thoại di động đã qua sử dụng trong đó: 01 điện thoại Iphone XS màu trắng, 01 điện thoại Nokia màu đen của Nguyễn Cảnh Q1, 01 điện thoại Samsung A21 của Bùi Ngọc H1, 01 điện thoại di động OPPOA79 của Lê Thị L và 01 điện thoại di động Iphone 5S của Nguyễn Cảnh N.
  • - Số tiền 5.040.000 đồng thu giữ trong người của bà L.

Đối với vật chứng là xe ô tô biển số 21A – 03362 quá trình điều tra xác định chủ sỡ hữu là ông Nguyễn Thế V1, sinh năm 1974, HKTT: Phi Nôm, H, Đ, Lâm Đồng. Ngày 03/01/2024 ông V1 cho Nguyễn Văn H (chồng của Lê Thị L) thuê lại để vận chuyển nông sản. Vào ngày 27/03/2024 và ngày 06/4/2024 Lê Thị L dùng xe ô tô và nhờ Bùi Ngọc H1 điều khiển để thực hiện hành vi phạm tội thì ông H và V1 không biết nên CQĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Đối với 10 can nhựa trong đó 09 can chứa dầu và 01 can chứa nhớt sau khi giám định và định giá tài sản Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sỡ hữu.

Đối với số tiền 5.040.000 đồng thu giữ trong người của bà Lê Thị L, 10 can nhựa không, 01 khay nhựa, 01 điện thoại Iphone XS màu trắng của Nguyễn Cảnh Q1, 01 điện thoại Samsung A21 của Bùi Ngọc H1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sỡ hữu.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại là Công ty TNHH T2 do ông Hồ Sỹ T1 (đại diện theo ủy quyền) không yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự (BL 234).

Cáo trạng số 174/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Cảnh Q1, Lê Thị L, Bùi Ngọc H1 và Nguyễn Cảnh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2024/HS-ST; ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Cảnh Q1, Lê Thị L, Bùi Ngọc H1 và Nguyễn Cảnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 58, điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Cảnh Q1.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Cảnh Q1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điều 38, điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Cảnh N.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điều 38, điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị L
  • Xử phạt bị cáo Lê Thị L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/4/2024 đến ngày 15/4/2024 vào thời gian chấp hành án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, Điều 58, điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Ngọc H1
  • Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
  • Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27/09/2024, các bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Cảnh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị L. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cảnh N, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ để Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Vào ngày 27/03/2024 và 06/4/2024 tại Tổ C, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng các bị cáo Nguyễn Cảnh Q1, Nguyễn Cảnh N, Lê Thị L và Bùi Ngọc H1 đã lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi và quản lý tài sản lén lút trộm cắp dầu Diesel và nhớt máy trong xe máy đào của Công ty TNHH T2. Trong đó Nguyễn Cảnh Q1 đã chiếm đoạt 210 lít dầu Diesel có giá trị 4.495.500 đồng (bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm đồng), Nguyễn Cảnh N đã chiếm đoạt 150 lít dầu Diesel và 20 lít nhớt máy có giá trị 4.701.500 đồng (bốn triệu bảy trăm lẻ một nghìn năm trăm đồng). Lê Thị L và Bùi Ngọc H1 hai lần trộm cắp tài sản với giá trị là 7.268.300 đồng (bảy triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm đồng).

Cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện chứng cứ, đối chiếu lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án; đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Cảnh Q1, Lê Thị L, Bùi Ngọc H1 và Nguyễn Cảnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Cảnh N: Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng muốn có tiền tiêu xài, hám lợi nên các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc trông coi tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Cảnh N lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong, gia đình bị cáo có công với đất nước, được tặng thưởng huy chương nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1, 2 điều 51 bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Thị L phạm tội 2 lần, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo có bố là thương binh ¾, mẹ là thanh niên xung phong nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh N và Lê Thị L mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Cảnh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, đại diện theo pháp luật bị hại- Công ty TNHH T2 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo N và xin cho bị cáo N được hưởng án treo. Bị cáo L không xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, không đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo L là phù hợp, đủ sức răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới và phạm tội một lần, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, đủ điều kiện hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Thị L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị L, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cảnh N, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố các bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Cảnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 15/4/2024 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh N 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (18/3/2025)

Giao bị cáo Nguyễn Cảnh N cho Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. (đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

2. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lê Thị L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng Ttr, KT&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV06-CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện Đức Trọng (04);
  • - VKSND huyện Đức Trọng (01);
  • - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (02);
  • - Hồ sơ THAHS (04);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 28/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị L "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger