Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 14 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp và bà Nguyễn Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đăng Việt - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn C, sinh năm 1996, tại Hưng Yên;

HKTT: Thôn Phượng Hoàng, xã Hùng Cường, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên; Trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q (đã chết) và con bà Vũ Thị O; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 10/11/2022 bị Công an thành phố H, tỉnh Hưng Yên ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự cộng cộng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2024, chuyển tạm giam ngày 27/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt);
  • HKTT: Thôn Đ, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
  • HKTT: Thôn Đ, xã B, TP H, tỉnh Hưng Yên.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 20/11/2024 C đi bộ từ nhà ở thôn P, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đến khu vực gần đê thuộc thôn Đ, xã B, thành phố H với mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây C gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) khoảng 40 tuổi, dáng giống người nghiện ma túy. C đi đến nói chuyện với người này và biết được người đàn ông này có bản ma túy. C đưa cho người đàn ông 200.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho C 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa ma túy đá. Sau đó C cầm gói túi ma túy cất giấu vào cạnh chân đê cửa khẩu rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày C lại đi bộ từ nhà ra chân đê nơi C giấu gói ma túy để lấy về sử dụng. Khi đi đến nơi không thấy có ai nên C đã đến cầm gói ma túy ở trên tay phải rồi đi bộ về thì gặp Nguyễn Văn T đang đứng ở gần chân đê thuộc thôn Đ, xã B, C và T có đứng nói chuyện với nhau, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì C bị tổ công tác Phòng Cảnh sát cơ động - Công an tỉnh H kiểm tra. Quá trình kiểm tra tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay phải của C 01 túi ni lon màu trắng, bên trong túi ni lon có chứa chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định và đưa C về trụ sở Công an để làm việc.

Ngày 21/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã tiến hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Phạm Văn C, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Bản Kết luận giám định số 688/KL-KTHS(MT) ngày 24/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong niêm phong, có khối lượng là: 0,232 g (không phẩy hai ba hai gam) là ma túy loại Methamphetamine. H lại 01 phong bì niêm phong ghi số 688/ KL-KTHS(MT), bên trong có 0,223 g (không phẩy hai hai ba gam) là ma tuý, loại Methamphetamine; 01 túi nilon đựng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Quá trình điều tra, Phạm Văn C thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKS-TPHY ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên truy tố Phạm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nhất trí với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249;

3

Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Phạm Văn C từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/11/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Một niêm phong ghi số: 688/KL-KTHS(MT), bên trong chứa: 0,223g (Không phẩy hai hai ba gam) ma túy, loại: Methamphetamine trong niêm phong; 01 (Một) vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 (Một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Những người làm chứng (anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn M) đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc vắng mặt của họ không làm trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người làm chứng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 10 phút ngày 20/11/2024 có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn M, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 20/11/2024 tại khu vực đê gần cửa khẩu thuộc thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Phạm Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 0,232 g Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

4

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích sử dụng cho bản thân và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 10/11/2022 bị Công an thành phố H, tỉnh Hưng Yên ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự cộng cộng.

[4] Về hình phạt: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tương xứng và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bị áp dụng hình phạt tù, không có tài sản, thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Đối với một niêm phong ghi số: 688/KL-KTHS(MT), bên trong chứa: 0,223g (Không phẩy hai hai ba gam) ma túy, loại: Methamphetamine trong niêm phong là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 (Một) vỏ túi nilon là công cụ bị cáo đựng ma tuý và 01 (Một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, cho tiêu hủy những vật chứng này.

[7] Các vấn đề khác:

  • - Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Văn C. Quá trình điều tra C khai đây là lần đầu tiên mua ma túy của người đàn ông này, C không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Việc mua bán ma túy giữa C với người đàn ông không ai biết, chứng kiến. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã rà soát hệ thống Cammera an ninh ở khu vực đê gần cửa khẩu thuộc thôn Đ, xã B, thành phố H nhưng không có có Camera nào tại khu vực này. Do đó, Cơ quan điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho C là ai nên không có căn cứ để xác minh, xử lý là phù hợp;

5

  • - Đối với Nguyễn Văn T: Chiều tối ngày 20/11/2024, T có đứng nói chuyện với C tại khu vực đê gần cửa khẩu thôn Đ, xã B, thành phố H. Sau đó C bị lực lượng Công an bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình nói chuyện với C, T không biết C mua và tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với T là phù hợp.
  • [8] Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, áp dụng điều luật, mức hình phạt; xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
  • [9] Về án phí: Bị cáo bị xác định có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 21/11/2024.

  3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: Một niêm phong ghi số: 688/KL-KTHS(MT) ngày 24/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, bên trong chứa: 0,223g (Không phẩy hai hai ba gam) ma túy, loại: Methamphetamine trong niêm phong; 01 (Một) vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 (Một) vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

    Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự TP Hưng Yên, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an T và Chi cục Thi hành án dân sự TP Hưng Yên ngày 25 tháng 02 năm 2025.

  4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Thu HuyềnNguyễn Thị Bá Thiệp

Vũ Thị Kim Anh

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
  • - Viện KSND thành phố Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - CQ thi hành án hình sự Công an tỉnh Hưng Yên (PC11);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Hưng Yên;
  • - Lưu hồ sơ, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger