|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 28/2025/HSST Ngày: 14/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền T.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh H.
- Bà Lê Thị N.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên T. - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Q. - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Anh T ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Huỳnh Anh T1; Sinh ngày 01 tháng 07 năm 1965 tại: tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện tại: K H, phường H, quận T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Huỳnh Đức T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1938);
Tiền án; Tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 20.12.1983 bị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng – Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân.
- Ngày 23.6.1986, bị Công an thành phố Đ - Quảng Nam bắt áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương vì có hành vi đánh nhau.
- Ngày 24.3.1998 bị Toà án nhân dân TP. Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù về tội Đánh bạc. Ra trại năm 1999.
- Năm 2006, đi cai nghiện tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng về lại địa phương năm 2008;
- Năm 2013, đi cai nghiện tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng về lại địa phương năm 2015;
- Ngày 18/10/2024, bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 410 với số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Thiên G; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 01 năm 1986 tại: thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện tại: K đường Ô, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Phạm Thành N (đã chết) và bà Hoàng Thị T3 (sinh năm 1950);
Tiền án; Tiền sự: không;
Nhân thân:
- Năm 2002 đi cai nghiện tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng về lại địa phương năm 2003.
- Năm 2003 đi cai nghiện tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng về lại địa phương năm 2005.
- Năm 2005, đi cai nghiện tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng về lại địa phương năm 2007;
- Năm 2009, đi cai nghiện tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng về lại địa phương năm 2011;
- Ngày 12.5.2021, bị Ủy ban nhân dân phường K, quận C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104 với số tiền 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 18/10/2024, bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 409 với số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 10/10/2024, có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Bà Hoàng Thị T3, sinh năm: 1950; địa chỉ: K Ông Í, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ ngày 09/10/2024, Huỳnh Anh T liên hệ và gặp người thanh niên tên “Tẹo” (nhân thân lai lịch cụ thể) mua 01 gói ma tuý Heroin với giá 7.000.000đ tại khu vực đường N, quận H, TP . (không rõ địa chỉ cụ thể) rồi đem về nhà tại K H, P. H, Q. T, TP . cất giấu. T có chia gói ma túy thành 15 gói ma túy heroin nhỏ để sử dụng và bán nếu có người mua với giá 500.000đ/ một gói. Trong khoảng thời gian này T đã sử dụng một mình hết 03 gói ma tuý. Đến khoảng 09 giờ ngày 10/10/2024, Phạm Thiên G liên lạc với Huỳnh Anh T để mua một gói ma túy Heroin với giá 500.000₫ mục đích sử dụng thì T đồng ý bán và hẹn G đến nhà T. Sau đó Phạm Thiên G điều khiển xe máy Honda Vario BKS 43C1-958.17 đi một mình đến nhà của T tại K H, P. H, Q. T, TP . gặp và mua của T một gói ma túy, khi G đưa tiền và nhận ma túy từ T thì bị Đội điều tra Cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý, Công an Q bắt quả tang. Do hoảng sợ nên Phạm Thiên G để rơi gói ma túy xuống chỗ để chân xe máy thì bị thu giữ một gói giấy chứa ma túy Heroin được niêm phong ký hiệu G. Tiến hành kiểm tra trên người Huỳnh Anh T và nơi ở thu giữ:
- Trong túi quần bên phải của T đang mặc có 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy có chất rắn màu trắng. Được niêm phong kí hiệu Gl.
- Tại phòng khách có 07 (bảy) gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều có chất rắn màu trắng. Được niêm phong kí hiệu G2.
- Trên giường trong phòng ngủ tầng 2 của T có 03 (ba) gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều có chất rắn màu trắng. Được niêm phong kí hiệu G3.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS - TK ngày 15/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Huỳnh Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Phạm Thiên G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thiên G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu và tiêu huỷ: Đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong kí hiệu G, G1, G2, G3 kèm theo kết luận giám định số 848 ngày 17/10/2024 có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an T.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu xanh có IMEI: 864572077058140 của bị cáo Huỳnh Anh T và 01 (một) điện thoại di động Redmi màu đen có IMEI: 860777079970382 của bị cáo Phạm Thiên G; 01 xe Honda Vario màu xanh đen BKS 43C1-958.17; số khung: 530504; số máy: 530138 của bị cáo G.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ, trả số tiền 1.063.000đ cho bị cáo T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về tiền án phí.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng đã truy tố, thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để được sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Huỳnh Anh T và Phạm Thiên G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân và ma tuý sử dụng nên vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/10/2024, Huỳnh Anh T đã mua của người đàn ông tên tẹo (không rõ lai lịch) 7.000.000đ ma tuý heroin rồi về phân chia 15 gói nhỏ rồi cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Cùng ngày, T sử dụng một mình hết 03 gói ma tuý heroin. Đến khoảng 9 giờ ngày 10/10/2024, khi bị cáo T đang bán 01 gói ma tuý loại heroin có khối lượng là 0,170 gam cho bị cáo G với giá 500.000đ tại K H, P. H, Q. T, TP . thì bị Đội điều tra Cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý, Công an quận T bắt quả tang. Tổng khối lượng ma tuý loại heroin mà bị cáo Huỳnh Anh T cất giấu để bán là 2,065 gam.
* Tại bản Kết luận số 848/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an T kết luận: “Các chất gửi giám định đều là ma tuý loại Heroin khối lượng G: 0,170 gam; G1: 0,140 gam; G2: 1,222 gam; G3: 0,533 gam”
Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Thiên G đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết định khung là “Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 18/CT-VKS - TK ngày 15/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Ma tuý là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, khi sử dụng gây ảo giác, hưng phấn về nhận thức, gây hại đến kinh tế, sức khoẻ và tinh thần của con người, làm suy thoái về đạo đức, lối sống và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến phát sinh các loại tội phạm khác. Là những thanh niên có sức khỏe và có khả năng lao động bình thường, lẽ ra các bị cáo phải biết tu dưỡng, rèn luyện nhưng lại sớm đi vào con đường phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và xâm phạm sức khoẻ cũng như sự phát triển bình thường giống nòi của dân tộc, đã làm cho một bộ phận thanh thiếu niên suy đồi phẩm chất, lối sống. Đây là loại tội phạm gây nguy hại lớn, bởi đó là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn xã hội, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Chính tác hại đó mà pháp luật nghiêm cấm và nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đối với hành vi của bị cáo Huỳnh Anh T để có tiền tiêu xài cá nhân và có ma tuý sử dụng, bị cáo liên lạc cho người đàn ông tên T4 (không rõ lai lịch) 7.000.000₫ ma tuý heroin rồi về phân chia 15 gói nhỏ rồi cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Bị cáo T đã bán 01 gói ma tuý loại heroin có khối lượng là 0,170 gam cho bị cáo G với giá 500.000đ. Ngoài ra. Bị cáo T sử dụng một mình hết 03 gói ma tuý heroin.
Đối với hành vi bị cáo Phạm Thiên G liên lạc với bị cáo T để mua một gói ma túy Heroin với giá 500.000₫ mục đích sử dụng, sau khi giao hẹn gặp và mua của bị cáo T một gói ma túy, khi bị cáo G đưa tiền và nhận ma túy từ bị cáo T thì bị Đội điều tra Cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý, Công an quận T bắt quả tang.
Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra để các bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo T và bị cáo G đều có nhân thân rất xấu.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo G có thái độ thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T có ông ngoại và cha là người có công cách mạng, bị cáo T đang bị bệnh HIV; bị cáo G có cha và mẹ là người có công cách mạng nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T, phạt bị cáo T số tiền 5.000.000đ theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo G không có việc làm ổn định, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong kí hiệu G, G1, G2, G3 kèm theo kết luận giám định số 848 ngày 17/10/2024 có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an T. Hội đồng xét xử thấy đây là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu xanh có IMEI: 864572077058140 của bị cáo Huỳnh Anh T và 01 (một) điện thoại di động Redmi màu đen có IMEI: 860777079970382 của bị cáo Phạm Thiên G; 01 xe Honda Vario màu xanh đen BKS 43C1-958.17; số khung: MH1JM5112LK530504; số máy: JM51E1530138 của bị cáo G dùng để liên lạc mua và bán ma túy và xe trên là phương tiện phạm tội nên cần áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ, trả số tiền 1.063.000đ cho bị cáo T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Hiện tất cả vật chứng và tài sản trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
[7] Về vấn đề khác: Đối với người tên T4 bán ma tuý cho bị cáo T chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra xử lý sau.
[8] Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Anh T và bị cáo Phạm Thiên G phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Anh T 02 (hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Anh T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thiên G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thiên G 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giam ngày 10/10/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu và tiêu huỷ: mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong kí hiệu G, G1, G2, G3 kèm theo kết luận giám định số 848 ngày 17/10/2024 có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an T.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Honor màu xanh có IMEI: 864572077058140; 01 (một) điện thoại di động Redmi màu đen có IMEI: 860777079970382; 01 xe Honda Vario màu xanh đen BKS 43C1-958.17; số khung: MH1JM5112LK530504; số máy: JM51E1530138.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ, trả số tiền 1.063.000đ theo biên lai thu số 0000432 ngày 17/01/2025 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Tất cả các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2025 và biên lai thu số 0000432 ngày 17/01/2025 ).
4. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Buộc các bị cáo Bị cáo Huỳnh Anh T và bị cáo Phạm Thiên G mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/3/2025).
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Bảo Huyền T. |
Bản án số 28/2025/HSST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP. ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân và ma tuý sử dụng nên vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/10/2024, Huỳnh Anh T đã mua của người đàn ông tên tẹo (không rõ lai lịch) 7.000.000đ ma tuý heroin rồi về phân chia 15 gói nhỏ rồi cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Cùng ngày, T sử dụng một mình hết 03 gói ma tuý heroin. Đến khoảng 9 giờ ngày 10/10/2024, khi bị cáo T đang bán 01 gói ma tuý loại heroin có khối lượng là 0,170 gam cho bị cáo G với giá 500.000đ tại K H, P. H, Q. T, TP . thì bị Đội điều tra Cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý, Công an quận T bắt quả tang. Tổng khối lượng ma tuý loại heroin mà bị cáo Huỳnh Anh T cất giấu để bán là 2,065 gam.
