|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày: 14-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thanh Hà
- Bà Trần Thị Hồng Yến
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Phước T, sinh ngày 07 tháng 6 năm 2000 tại Cần Thơ.
Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh P, sinh năm 1975 (chết) và bà Lê Trần Nguyệt H, sinh năm 1980; tiền án: Không; tiền sự: 02 lần; Lần 1: Ngày 02 tháng 11 năm 2020, bị Tòa án án nhân dân quận A, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 03 tháng 11 năm 2021; Lần 2: Ngày 15 tháng 11 năm 2022, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 936/CN-CS2 ngày 10 tháng 5 năm 2024. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: Ngày 08/10/2024. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Võ Thị Kim P1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thái Thùy T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Lê Văn B, sinh năm 1999; Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua tiếp nhận nguồn tin của quần chúng nhân dân, vào lúc 00 giờ 05 phút ngày 08 tháng 10 năm 2024 lực lượng Công an quận Ô kết hợp phường T tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Lê Phước T tại địa chỉ phòng số B nhà N, khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ phát hiện thu giữ ma túy và các dụng cụ sử dụng ma túy.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ đã thu giữ vật chứng gồm: 02 gói nilon nẹp miệng bên trong chứa các hạt tinh thể không màu dạng rắn nghi là ma túy được thu giữ bên trong vỏ gói thuốc lá hiệu Jet để trong sọt rác của nhà vệ sinh tại phòng 202 nhà nghỉ P2; 01 cây cân tiểu ly, màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ gói thuốc lá, hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 bình tự chế bằng nhựa, có gắn nắp nhựa màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu xanh, 01 lỗ gắn với đoạn nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng, 01 ống hút nhựa màu vàng đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu cam đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas màu xanh, đã qua sử dụng; 01 cái điện thoại di động, màu đen, có ghi chữ S, có số IMEI1: 350538280582680, IMEI2: 359923670582683, gắn sim V có số sê ri: 8984048000929036045, mặt kính phía trước bị nứt, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 319/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K Công an thành phố C kết luận, tinh thể không màu trong 02 (hai) gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 14,1708 gam.
Quá trình điều tra, Lê Phước T thừa nhận toàn bộ hành vi cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Cụ thể, ngày 03 tháng 10 năm 2024, T mua ma túy của người tên H1 (không rõ địa chỉ cụ thể) tại quận B, thành phố Hồ Chí Minh với giá 3.000.000 đồng, sau đó T rủ bạn gái tên Võ Thị Kim P1 về nhà đi đám, T cùng với P1 đến thuê phòng số 202 nhà nghỉ P2 thuộc khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ để ở, T lấy ma túy ra sử dụng 04 lần, phần còn lại 02 gói nilong nẹp miệng trong gói thuốc lá cất giấu trong sọt rác nhà vệ sinh bị lực lượng công an khám xét thu giữ. Mục đích Lê Phước T mua ma túy về để sử dụng và không có ai hùn tiền mua ma túy, T không rủ P1 sử dụng ma túy chung.
Đối với Võ Thị Kim P1 không biết Lê Phước T cất giấu ma túy và không có hùn tiền mua ma túy, P1 tự ý sử dụng ma túy một mình, không đủ cơ sở xử lý P1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với P1.
Đối với người tên H1 bán ma túy cho Lê Phước T, T khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ không xác minh được, tiếp tục làm rõ đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thái Thùy T1 là quản lý nhà nghỉ P2 thuộc khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, qua làm việc bà P1 khai nhận bà là người trược tiếp cho T, P1 thuê phòng số 202 nhà nghỉ Phương A và tại thời điểm cho thuê thì bà không biết việc T, P1 đến thuê phòng để sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, không có căn cứ xử lý hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của bà T1.
Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKSOM ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã truy tố Lê Phước T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Phước T vẫn thừa nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo chỉ xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Phước T từ 06 năm đến 07 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đồng thời, Kiểm sát viên còn đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 319/KL-KTHS, ngày 15/10/2024 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố C; 01 cây cân tiểu ly, màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ gói thuốc lá, hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 bình tự chế bằng nhựa, có gắn nắp nhựa màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu xanh, 01 lỗ gắn với đoạn nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng, 01 ống hút nhựa màu vàng đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu cam đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas màu xanh, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo 01 cái điện thoại di động, màu đen, có ghi chữ S, có số IMEI1: 350538280582680, IMEI2: 359923670582683, gắn sim V có số sê ri: 8984048000929036045.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hội đồng xét xử xét thấy, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện một cách nhất quán, đảm bảo tính khách quan, tính liên quan và hợp pháp,
cơ quan tiến hành tố tụng cũng đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho những người tham gia tố tụng.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với các chứng cứ và tài liệu thu thập được, đã chứng minh được rằng, do nghiện ma túy nên bị cáo Lê Phước T có hành vi mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo mang ma túy mua được về phòng số 202 nhà nghỉ P2 thuộc khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ nơi bị cáo đang thuê ở cất giấu. Sau đó, bị cáo sử dụng một phần số ma túy mua được, số ma túy còn lại thì bị cáo cất giữ. Đến ngày 08/10/2024, bị cáo T bị khám xét nơi ở và thu giữ số ma túy mà bị cáo tàng trữ để sử dụng. Qua giám định, số ma túy mà bị cáo Thiên tàng T2 là Methamphetamine, khối lượng 14,1708 gam. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Phước T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo cũng biết rõ ma túy là chất cấm mua bán, tàng trữ nếu không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền nhưng vì phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy mà bị cáo vi phạm pháp luật. Hiện nay, loại tội phạm này đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Do đó, đối với bị cáo cần phải có hình phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[5] Về vật chứng thu giữ trong vụ án là ma túy và dụng cụ liên quan đến ma tuý cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 cái điện thoại di động, màu đen, có ghi chữ S, có số IMEI1: 350538280582680, IMEI2: 359923670582683, gắn sim V có số sê ri: 8984048000929036045, mặt kính phía trước bị nứt, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[6] Đối với người nam thanh niên tên H1 bán ma túy cho bị cáo Thiên kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Phước T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Phước T 07 (B1) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo T được tính từ ngày 08/10/2024.
- Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 319/KL-KTHS, ngày 15/10/2024 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố C; 01 cây cân tiểu ly, màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ gói thuốc lá, hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 bình tự chế bằng nhựa, có gắn nắp nhựa màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu xanh, 01 lỗ gắn với đoạn nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng, 01 ống hút nhựa màu vàng đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu cam đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas màu xanh, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 cái điện thoại di động, màu đen, có ghi chữ S, có số IMEI1: 350538280582680, IMEI2: 359923670582683, gắn sim V có số sê ri: 8984048000929036045, mặt kính phía trước bị nứt.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Phước T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bích Trương |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Tuyên bố: Bị cáo Lê Phước Thiên phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Phước Thiên 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Thiên được tính từ ngày 08/10/2024. 2. Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 319/KL-KTHS, ngày 15/10/2024 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; 01 cây cân tiểu ly, màu trắng đen, đã qua sử dụng; 01 vỏ gói thuốc lá, hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 bình tự chế bằng nhựa, có gắn nắp nhựa màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu xanh, 01 lỗ gắn với đoạn nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng, 01 ống hút nhựa màu vàng đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu cam đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 cái quẹt gas màu xanh, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo 01 cái điện thoại di động, màu đen, có ghi chữ Samsung, có số IMEI1: 350538280582680, IMEI2: 359923670582683, gắn sim Viettel có số sê ri: 8984048000929036045, mặt kính phía trước bị nứt. 3. Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Phước Thiên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
