Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 28/2025/HSPT

Ngày: 13/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung

Bà Trần Thị Thu Phương

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 15/2025/HSPT ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Hồ Công T và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Hồ Công T, Hồ Công T1, Nguyễn Đình C, Lê Văn C1, Lê Văn T2 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

*Bị cáo kháng cáo:

  1. Hồ Công T; Sinh ngày: 09/02/1980 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Hồ Công T3 và bà: Trương Thị A; Có vợ là: Lê Thị H và có một con sinh năm 2004.

    Tiền án; Tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Tại Bản án số 06/2005/HSST ngày 21/4/2005 của Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Năm 2011 bị Toà án nhân dân huyện Như Xuân xử phạt 60 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" tại Bản án số 16/2011/HSST ngày 06/7/2011; Năm 2015 bị Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 42 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 07/2015/HSST ngày 25/06/2015.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023. Sau đó, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Hồ Công Thức; Sinh ngày: 01/01/1975 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông: Hồ Công L (Đã chết) và bà: Lê Thị X; Có vợ là: Trương Thị L1 và có hai con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000.

    Tiền án: Đã 01 lần bị kết án chưa được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số 17/2021/HSST ngày 28/10/2021 của Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt bị cáo 13 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Đình C; Sinh ngày: 09/4/1994 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Đình L2 và bà: Hồ Thị T4; Có vợ là: Hà Thị H1 (đã ly hôn); Bị cáo có một con sinh năm 2011 ; Tiền án, tiền sự: Không.

    Về nhân thân: Năm 2012 bị Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 12 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" tại Bản án số 06/2012/HSST ngày 18/6/2012; Năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt bị can 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 04/2018/HSST ngày 16/3/2018.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C2 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  4. Lê Văn C1; Sinh ngày: 19/5/1978 tại tuyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Co ông: Lê Văn K (đã chết) và bà: Lê Thị M (đã chết); Có vợ là: Bùi Thị H2 (đã ly hôn và có hai con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C2 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay ; Bị cáo vắng mặt

  5. Lê Văn T2; Sinh ngày: 02/01/1997 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Lê Văn N và bà: Lê Thị M1 (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C2 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Bị cáo rút đơn kháng cáo:

  1. Trương Công H3; Sinh ngày: 11/5/1981 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ôn: Trương Công D (đã chết) và bà: Quách Thị Á (đã chết); Có vợ là: Vũ Thị Q và bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2024 cho đến nay ;

  2. Hồ Công D1; Sinh ngày: 20/10/1983 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hồ Công T3 và bà: Trương Thị A; Có vợ là: Quách Thị T5 và có hai con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2024 cho đến nay;

  3. Bùi Trung S; Sinh ngày: 12/10/1981 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Bùi Trung N1 và bà: Lê Thị K1 (đều đã chết); Có vợ là: Phạm Thị X1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Năm 1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị can 12 tháng tù về tội "Cướp tài sản" tại Bản án số 105/HSST ngày 02/8/1999.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn C2 đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2023 cho đến nay ;

* Bị cáo không kháng cáo:

Lê Đình Q1; Sinh ngày: 09/4/2006 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

* Bị hại không kháng cáo:

1- Chị Lê Thị P; Sinh năm: 1986; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

2- Ông Lê Văn K; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lê Văn K: Anh Lê Văn D2; Sinh năm: 1988; Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 04/4/2023, Nguyễn Đình C, sinh năm 1994 ở thôn Đ, xã X, huyện N; Hồ Công T, sinh năm 1980, Hồ Công T1, sinh năm 1975 cùng ở thôn X, xã X, huyện N và Lê Văn C1, sinh năm 1978 ở khu phố C, thị trấn Y, huyện N cùng nhau đi hát karaoke tại quán K2 ở Khu phố T, thị trấn Y, huyện N. Quá trình hát karaoke giữa Hồ Công T và Lê Văn C1 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc T1 dùng tay đấm vào trán của Lê Văn C1 một cái làm rách da, chảy máu. Sau đó, được can ngăn, Lê Văn C1 bỏ đi về, còn Hồ Công T, Hồ Công T1, Nguyễn Đình C đi về xã X, huyện N để uống rượu.

Sau đó, do còn bực tức với nhau nên Nguyễn Đình C đã gọi điện thoại Lê Văn C1 hẹn chiều cùng ngày sẽ lên nhà nói chuyện. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, không thấy Nguyễn Đình C đến nên Lê Văn C1 gọi điện thoại lại cho Nguyễn Đình C thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, thách thức hẹn đánh nhau. Lúc này, Nguyễn Đình C đang chơi, uống rượu tại đám cưới ở thôn P, xã X, huyện N cùng với nhóm Hồ Công T, Hồ Công T1, Trương Công H3, Hồ Công D1, cùng ở thôn X, huyện N và Bùi Trung S ở khu phố T, thị trấn Y huyện N nên đã rủ Trương Công H3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A - 078.58 chở C và Bùi Trung S đi cùng lên nhà Lê Văn C1 để giải quyết mâu thuẫn với Lê Văn C1, đồng thời gọi H4 Công Thức nói là “Thằng C1 hắn gọi hẹn lên ngã ba dốc T6”, nên T1 đã rủ Hồ Công T và Hồ Công D1 đi cùng bằng xe ôtô biển kiểm soát 36A – 852.77 của D1 cùng đi lên nhà Lê Văn C1.

Về phía Lê Văn C1, sau khi gọi điện thoại thách thức, hẹn đánh nhau với Nguyễn Đình C đã chủ động chuẩn bị sẵn 01 con dao phát cỏ dài 101cm, có lưỡi dao bằng kim loại, sắc, cán bằng tre để sẵn sàng đánh nhau với nhóm của Nguyễn Đình C. Cùng lúc này, Lê Anh H5, sinh ngày 15/12/2008 (con trai của Lê Văn C1) nghe C1 nói chuyện điện thoại, biết sắp có đánh nhau nên đã gọi điện thoại rủ Lê Văn T2, sinh năm 1997; Lê Đình Q1, sinh ngày 09/4/2006 cùng ở cùng khu phố C, thị trấn Y đến nhà để chuẩn bị đánh nhau với nhóm của Nguyễn Đình C. Sau khi tập trung tại nhà Lê Văn C1 thì H5, Q1, T2 cùng nhau chuẩn bị sẵn 01 chai thủy tinh (dạng vỏ chai bia) đựng xăng, dùng giẻ nút chai lại để tạo thành bom xăng, H5 lấy ra 02 đoạn tuýp sắt để sẵn trước ngõ nhà.

Một lúc sau, nhóm của Nguyễn Đình C đi trên 02 xe ôtô đến, xe của D1 đến trước, dừng trên đường H, trước ngõ nhà Lê Văn C1 thì T1 hạ kính xe, nói chuyện, rủ Lê Văn C1 đi uống rượu để giải hòa nhưng C1 không đi, hai bên nói qua lại với nhau mấy câu, sau đó T1, T2, D1 xuống xe đứng gần ngõ nhà C1. Vừa lúc này, xe ô tô của H3 cũng đến và dừng lại, cả bọn xuống xe, đứng trước ngõ N thì bị Q1 ở phía trong ngõ đốt bom xăng tự chế trước đó ném ra nhưng giẻ nút chai bị rơi ra nên không cháy, chai xăng vỡ ra, mãnh thủy tinh vỡ văng trúng vào chân T2. Bị ném, nhóm của Nguyễn Đình C lao vào trong ngõ đánh Lê Văn C1; còn Lê Văn C1 cũng lùi lại lấy dao đã chuẩn bị sẵn, đánh trả nhóm của Nguyễn Đình C, trong lúc đánh nhau, Lê Văn C1 nhận ra Bùi Trung S nên chửi S thì S không xông vào nữa, lùi ra ngoài bị trượt chân ngã xuống mương thoát nước ven đường H, tiếp tục nhặt đá ném về phía Lê Văn C1. Ở phía trong ngõ, do thấy Lê Văn C1 dùng dao dài lia qua, lia lại nên nhóm của Nguyễn Đình C lùi ra phía ngoài đường, mở cốp xe để cả bọn lấy kiếm, tuýp sắt đã chuẩn bị từ trước xông vào đánh nhau tiếp với Lê Văn C1. Ngay lúc này, ông Lê Văn K (bố đẻ Lê Văn C1) thấy có đánh nhau nên đội đèn pin, chống gậy đi từ trong nhà ra đứng gần vị trí gốc cây sung đầu ngõ nói “Bay đánh nhau ở đâu thì đánh, không được đánh nhà tao, tao chém chết” thì bị Hồ Công T lao lại dùng kiếm chém và một người nữa dùng tuýp sắt đánh ông K nằm gục tại gốc cây sung. Thấy ông K bị đánh thì Lê Văn C1 tiếp tục cầm dao lao vào đánh nhau với nhóm Hồ Công T, Nguyễn Đình C, T1, H3, D1 làm T rơi kiếm (mã tấu) ra trong ngõ, hai bên đánh nhau qua lại lộn xôn, dẫn đến H3 và D1 bị thương nên chạy quay ra ngoài. Bên trong ngõ chỉ còn Hồ Công T, T1 và Nguyễn Đình C đánh nhau với Lê Văn C1, quá trình đánh nhau Hồ Công T bị ngã ra thì H5 và Q1 cầm gậy tuýp lao lại đánh vào lưng Hồ Công T, sau đó ném luôn tuýp lại chạy vào bên trong, cùng với Lê Văn T2 ở phía trong gốc cây xoài nhặt gạch, đá ném về phía nhóm của Nguyễn Đình C. Hồ Công T bị đánh ngã, sau đó đứng dậy và ôm được Lê Văn C1 từ phía sau để T1 và Nguyễn Đình C cầm tuýp sắt lao vào đánh Lê Văn C1 tiếp nhưng Lê Văn C1 vùng vằng, thoát ra được thì Hồ Công T cầm tuýp sắt mà Q1 và H5 bỏ lại, cùng với T1, Nguyễn Đình C chạy ra phía ngoài đường H. Lúc này, thấy chị Lê Thị P là hàng xóm nhà Lê Văn C1 chạy từ nhà ra hô “cướp, cướp” thì Hồ Công T cầm tuýp sắt vụt một cái vào đùi và chửi "Đ.. mẹ mi cướp à". Bị đánh, chị P bỏ chạy vào phía trong ngõ, đứng cạnh vị trí gốc cây xoài, rồi tiếp tục hô to "có người đánh nhau ở dưới dốc trầu" nhưng nhóm Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Hồ Công T, Hồ Công D1, Trương Công H3, Bùi Trung S vẫn tiếp tục nhặt gạch đá ném vào trong ngõ nhà Lê Văn C1, còn ở phía trong ngõ thì có Lê Văn T2, Lê Anh H5, Lê Đình Q1 và Lê Văn C1 cũng nhặt gạch, đá ném ra phía ngoài đường, hai bên ném qua ném lại khoảng 2 - 3 phút thì nhóm của T2 lên xe bỏ đi về hướng dốc Trầu. Lúc này, những người đang đứng trong ngõ nhà C1 mới chạy ra bế ông K vào nhà và đưa đi cấp cứu, điều trị thương tích.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định pháp y về thương tích, vật gây thương tích đối với ông Lê Văn K, Lê Văn C1, chị Lê Thị P, Hồ Công T, Hồ Công D1, Trương Công H3; trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử, giám định đường vân, ADN trên vật chứng thu giữ. Kết quả giám định xác định:

  • * Đối với ông Lê Văn K:

    Tại bản kết luận giám định số 808/KLTTCT-PYTH ngày 20/6/2023 của Trung tâm P1 xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn K tại thời điểm giám định là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm);

  • * Đối với Lê Văn C1:

    Tại bản kết luận giám định số: 583/KLTTCT-PYTH ngày 18/5/2023 của Trung tâm P1 xác định:

    - Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn C1 tại thời điểm giảm định là: 14% (Mười bốn phần trăm).

  • * Đối với Hồ Công T:

    Tại bản kết luận giám định số: 655/KLTTCT - PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P1 xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Công T tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm).

  • * Đối với Hồ Công D1

    Tại bản kết luận giám định số: 656/KLTTCT-PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P1, xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Công D1 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).

  • * Đối với Trương Công H3:

    Tại bản kết luận giám định số 657/KLTTCT-PYTH ngày 12/5/2023 của Trung tâm P1, xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Công H3 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

  • * Đối với Lê Thị P.

    Tại bản kết luận giám định số 582/KLTTCT-PYTH ngày 15/4/2023 của Trung tâm P1, xác định:

    - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị P tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

Quá trình điều tra xác định, sự việc nêu trên xảy ra trong khoảng thời gian 10 phút tại khu vực trên đường và hành lang đường H trước ngõ vào nhà ông Lê Văn K, nơi có nhiều hộ dân sinh sống (khu vực công cộng), hành vi dùng hung khí nguy hiểm, lùa đuổi, đánh nhau gây thương tích của các đối tượng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự và an toàn nơi công cộng, phá vỡ trật tự kỷ cương, an toàn xã hội và việc thực hiện chính sách pháp luật tại địa phương.

Về trách nhiệm Dân sự:

Quá trình điều tra, người đại diện của bị hại Lê Văn K yêu cầu người đã gây thương tích cho ông K bồi thường số tiền 400.000.000 đồng; Hồ Công T, Trương Công H3, Hồ Công D1, Lê Văn C1 chưa có yêu cầu bồi thường, các bên cũng chưa có thỏa thuận gì về vấn đề này. Đối với bị hại Lê Thị P trong quá trình điều tra Hồ Công T đã bồi thường cho chị Lê Thị P số tiền 3.000.000 đồng, chị P không có yêu cầu T phải bồi thường gì thêm. Trước khi xét xử, bị cáo Hồ Công D1, Trương Công H3 đã tự nguyện nộp mỗi bị cáo 20.000.000đ, bị cáo Bùi Trung S nộp 10.000.000đ và bị cáo Lê Đình Q1 nộp 3.000.000đ tại Cơ quan THADS huyện để khắc phục hậu quả gây ra.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công T, Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Bùi Trung S, Lê Văn C1, Lê Văn T2, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Lê Đình Q1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Công T 5 (Năm) năm về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (Hai) năm 6 (S1) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Hồ Công T phải chấp hành hình phạt chung là 7 (Bảy năm) năm 6 (S1) tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Hồ Công T còn phải chấp hành tiếp 7 (Bảy) năm 01 (Một) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình C 2 (Hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Đình C phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Nguyễn Đình C còn phải chấp hành tiếp 3 (Ba) năm 7 (Bảy) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  3. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Công T1 2 (Hai) năm 3 (Ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Hồ Công T1 phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm 3 tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Hồ Công T1 còn phải chấp hành tiếp 3 (Ba) năm 10 (Mười) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  4. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Bùi Trung S 16 (Mười sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 16 (Mười sáu) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Bùi Trung S phải chấp hành hình phạt chung là 32 tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Bùi Trung S còn phải chấp hành tiếp 27 (Hai bảy) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  5. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C1 2 (Hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Lê Văn C1 phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 27 ngày. Bị cáo Lê Văn C1 còn phải chấp hành tiếp 3 (Ba) năm 7 (Bảy) tháng 3 (Ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  6. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T2 15 (Mười lăm) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 15 (Mười lăm) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Lê Văn T2 phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba mươi) tháng tù, được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 4 tháng 26 ngày. Bị cáo Lê Văn T2 còn phải chấp hành tiếp 25 (Hai lăm) tháng 4 (Bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  7. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Trương Công H3 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Trương Công H3 phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  8. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Công D1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Hồ Công D1 phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  9. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 103 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Đình Q1 11 (Mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” và 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Lê Đình Q1 phải chấp hành hình phạt chung là 21 (Hai mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (Bốn hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về Dân sự:

Buộc bị cáo Hồ Công T phải có trách nhiệm bồi thường cho đại diện bị hại như sau:

  • Chi phí cấp cứu, điều trị thương tích: 86.324.000 đồng.
  • Tiền xe vận chuyển đi về các lần là 7.800.000 đồng;
  • Tiền thuốc men, bồi bổ thêm: 31.800.000 đồng;
  • Chi phí, thu nhập người chăm sóc bị mất: 02 người x 45 ngày x 600.000 đồng = 54.000.000 đồng;
  • Tổn thất tinh thần tương đương 45 tháng lương tối thiểu = 105.300.000 đồng.

Tổng cộng các khoản là 285.224.000 đồng. Hiện đã bồi thường trước 93.000.000đ nên Bị cáo Hồ Công T còn phải tiếp tục bồi thường tiếp 192.224.000 (Một trăm chín hai triệu hai trăm hai mươi tư nghìn) đồng.

Chi cục thi hành án huyện Như Xuân hoàn trả cho đại diện người bị hại số tiền 53.000.000 đồng đang tạm thu của các bị cáo.

Giành quyền khởi kiện cho bị cáo Hồ Công T yêu cầu những người khác liên đới chịu trách nhiệm bồi thường khi có đủ chứng cứ.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 11/12/2024 bị cáo Hồ Công T kháng cáo bản án với nội dung: Bản thân bị cáo không gây thương tích cho ông K và không gọi điện rủ ai đánh nhau mà Tòa án sơ thẩm xử 07 năm 06 tháng tù là quá cao, bị cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Ngày 03/12/2024 bị cáo Nguyễn Đình C kháng cáo bản án với nội dung: Bản thân có hành vi ném đá vào đám đông nhưng chưa gây tổn thương cho người khác, đề nghị Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo có phạm tội Cố ý gây thương tích hay không, nhiều vấn đề chưa được Hội đồng xét xử xử theo quy định của pháp luật.
  • Ngày 10/12/2024 bị cáo Hồ Công T1 kháng cáo bản án với nội dung: Bản thân bị cáo không tham gia đánh nhau, nên bị cáo kháng cáo nội dung phần hình phạt của bản án và đề nghị Tòa án xem xét bớt lỗi cho bị cáo.
  • Ngày 10/12/2024 bị cáo Hồ Công D1 kháng cáo bản án với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Ngày 09/12/2024 bị cáo Bùi Trung S kháng cáo bản án với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
  • Ngày 11/12/2024 bị cáo Trương Công H3 kháng cáo bản án với nội dung: Xin được hưởng án treo.
  • Ngày 12/12/2024 bị cáo Lê Văn C1 kháng cáo bản án với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
  • Ngày 12/12/2024 bị cáo Lê Văn T2 kháng cáo bản án với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

* Trước khi xét xử phúc thẩm các bị cáo Bùi Trung S, bị cáo Trương Công H3 và bị cáo Hồ Công D1 đã có văn bản rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Trung S, bị cáo Trương Công H3 và bị cáo Hồ Công D1 tại Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 33/2025 ngày 12 tháng 3 năm 2025;

* Tại phiên tòa:

  • Các bị cáo Hồ Công T, Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Lê Văn C1 và Lê Văn T2 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo;
  • Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt cấp sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt, do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Bị cáo Hồ Công T, Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Lê Văn C1 và bị cáo Lê Văn T2.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm vì án không được chấp nhận để cải sửa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo Điều 351 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Đình C và bị cáo Lê Văn T2 khai nhận:

Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Lê Văn C1 với Nguyễn Đình C, Hồ Công T1 và Hồ Công T nên tối ngày 04/4/2023 giữa Lê Văn C1 và Nguyễn Đình C đã gọi điện thoại thách thức, hẹn đánh nhau. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đình C cùng với Hồ Công T1, Hồ Công T, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Bùi Trung S đi trên 02 xe ôtô đem theo hung khí kiếm, tuýp sắt đến khu vực đường H ở trước ngõ N thuộc khu phố C, thị trấn Y, huyện N; còn Lê Văn C1 cũng cùng với Lê Anh H5, Lê Đình Q1, Lê Văn T2 chuẩn bị sẵn bom xăng tự chế, gậy tuýp sắt, dao để đánh nhau. Khi thấy nhóm của Nguyễn Đình C đến, Lê Đình Q1 dùng bom xăng tự chế ném từ trong ngõ ra đường H nhưng chai bom xăng không cháy nổ, sau đó hai bên dùng hung khí xông vào đánh nhau. Quá trình xô xát, đánh nhau, các đối tượng đã hò hét, cầm gạch đá, gậy sắt, kiếm, dao để ném, đuổi đánh nhau trong khoảng thời gian 10 phút, làm Lê Văn C1 bị thương, tổn hại sức khỏe 13%, Hồ Công T bị thương, tổn hại sức khỏe 12%, Hồ Công D1 bị thương, tổn hại sức khỏe 2%, Trương Công H3 bị thương, tổn hại sức khỏe 2%; ông Lê Văn K (bố Lê Văn C1) thấy có đánh nhau, đi từ trong nhà ra thì bị Hồ Công T dùng kiếm, tuýp sắt đánh bị thương tích, tổn hại sức khỏe 37%; chị Lê Thị P là hàng xóm nhà ông Kết từ trong nhà đi ra cũng bị Hồ Công T dùng tuýp sắt đánh gây thương tích, tổn hại sức khỏe 01%.

Như vậy, các bị cáo đều thừa nhận khoảng 23h ngày 04/4/2023 các bị cáo đều có mặt tại nơi xảy ra vụ việc là khu vực nhà bị cáo Lê Văn C1. Trong đó có các bị cáo Hồ Công T, Bùi Trung S, Lê Văn C1, Lê Văn T2, Trương Công H3, Hồ Công D1; Nguyễn Đình C và Lê Đình Q1 thừa nhận bản thân có tham gia vào quá trình đánh nhau gây thương tích và gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên bị cáo Hồ Công T chỉ công nhận có thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và thực hiện hành vi gây thương tích cho Lê Văn C1 và chị Lê Thị P, bị cáo không công nhận hành vi gây thương tích cho ông K. Bị cáo T1 chỉ công nhận có thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo không gây thương tích cho người khác.

Xét : Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là dao, kiếm, gạch, đá, bom xăng tự chế, tuýp sắt để đánh nhau, gây thương tích giữa nhóm của Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Hồ Công T, Hồ Công D1, Trương Công H3, Bùi Trung S và nhóm của Lê Văn C1, Lê Văn T2, Lê Đình Q1, Lê Anh H5. Trong đó bị cáo Hồ Công T là người trực tiếp gây ra thương tích cho ông Lê Văn K và chị Lê Thị P nên phải chịu trách nhiệm độc lập đối với thương tích của ông Lê Văn K và chị Lê Thị P.

Hành vi lùa đuổi, hò hét, sử dụng hung khí nguy hiểm là dao, kiếm, tuýp sắt, gạch, đá, bom xăng tự chế để đánh nhau, gây thương tích cho nhau tại khu vực trên lòng đường và hành lang đường H trong thời gian dài của các bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng, đã phá vỡ trật tự kỷ cương, an toàn xã hội, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự trên địa bàn và việc thực hiện chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương.

Xét hành vi của các bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:

[3.1] Xét kháng cáo của bị cáo Hồ Công T kháng cáo bản án với nội dung: Bản thân bị cáo không gây thương tích cho ông K và không gọi điện rủ ai đánh nhau mà Tòa án sơ thẩm xử 07 năm 06 tháng tù là quá cao, bị cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Hồ Công T không thừa nhận hành vi gây thương tích cho ông Lê Văn K, bị cáo Hồ Công T chỉ thừa nhận khi bị đánh bằng túyp sắt thì giật túyp sắt đánh lại, sau đó thì thấy có người phụ nữ là chị P vừa đi vừa hô “Cướp cướp” nên đã dùng tuýp sắt đánh chị P một cái vào chân và bị cáo gây thương tích cho Lê Văn C1.

Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo Lê Văn C1, bị cáo Lê Đình Q1, bị cáo Lê Văn T2, bị hại Chị Lê Thị P, ông Lê Văn K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn H7 và người làm chứng anh Nguyễn Khắc T7, chị Quách Thị H8 cùng với dấu vết thương tích trên cơ thể ông Lê Văn K, vật chứng vụ án đã thu giữ được, hiện trường vụ án, kết quả thực nghiệm điều tra, kết quả nhận dạng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Hồ Công T là người trực tiếp gây thương tích cho ông K tổn hại 37% sức khỏe, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 năm 6 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp, tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới, không có tình tiết giảm nhẹ mới, do đó kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để xem xét.

[3.2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình C kháng cáo bản án với nội dung: Bản thân có hành vi ném đá vào đám đông nhưng chưa gây tổn thương cho người khác, đề nghị Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo có phạm tội Cố ý gây thương tích hay không, nhiều vấn đề chưa được Hội đồng xét xử xử theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Lê Văn C1 với Nguyễn Đình C nên tối ngày 04/4/2023 giữa Lê Văn C1 và Nguyễn Đình C đã gọi điện thoại thách thức, hẹn đánh nhau. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đình C cùng với Hồ Công T1, Hồ Công T, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Bùi Trung S đi trên 02 xe ôtô đem theo hung khí kiếm, tuýp sắt với mục đích để đánh nhau với Lê Văn C1, bản thân bị cáo có cùng chung mục đích với các bị cáo khác, cũng thực hiện hành vi dùng gạch đá ném về phía nhà Lê Văn C1, bị cáo Lê Văn C1 tổn hại 13% sức khỏe, ông K tổn hại 37%, chị P tổn hại 1% sức khỏe, do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo đồng phạm với hành vi gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích của các bị cáo khác trong vụ án. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 2 (H6) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đều ở mức khởi điểm. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt tuy nhiên bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới, tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[3.3] Xét kháng cáo của bị cáo Hồ Công T1 kháng cáo bản án với nội dung: Bản thân bị cáo không tham gia đánh nhau, nên bị cáo kháng cáo nội dung phần hình phạt của bản án và đề nghị Tòa án xem xét bớt lỗi cho bị cáo.

Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Lê Văn C1 với Nguyễn Đình C, Hồ Công T1 và Hồ Công T nên tối ngày 04/4/2023 giữa Lê Văn C1 và Nguyễn Đình C đã gọi điện thoại thách thức, hẹn đánh nhau. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đình C cùng với Hồ Công T1, Hồ Công T, Trương Công H3, Hồ Công D1 và Bùi Trung S đi trên 02 xe ôtô đem theo hung khí kiếm, tuýp sắt đến khu vực đường H ở trước ngõ N thuộc khu phố C, thị trấn Y, huyện N.

Bị cáo T1 không thừa nhận thực hiện hành vi gây thương tích tuy nhiên căn cứ lời khai của các bị cáo khác thể hiện, bản thân bị cáo T1 cũng lao vào trong ngõ nhà Lê Văn C1 để đánh nhau, các bị cáo cùng có chung mục đích, có sử dụng hung khí để đánh anh C1, hậu quả, bị cáo Lê Văn C1 tổn hại 13% sức khỏe, ông K tổn hại 37%, chị P tổn hại 1% sức khỏe, do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo đồng phạm với hành vi gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích của các bị cáo khác trong vụ án.

Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 2 (Hai) năm 3 (Ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới, tình tiết mới, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Về thời gian chấp hành án của bị cáo: Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam nhưng án sơ thẩm đã quyết định trừ thời gian tạm giữ, tạm giam cho bị cáo 04 tháng 27 ngày là vi phạm nghiêm trọng, do đó cấp phúc thẩm cần sửa về thời gian chấp hành án cho bị cáo T1 theo quy định của pháp luật.

[3.4] Xét kháng cáo của bị cáo bị cáo Lê Văn C1 và bị cáo Lê Văn T2 kháng cáo bản án với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Lê Văn C1 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thường tích” và 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Bị cáo Lê Văn T2 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thường tích” và 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; với mức án trên là cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo C1 ở mức khởi điểm và bị cáo T2 dưới khung hình phạt. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Lê Văn C1 và bị cáo Lê Văn T2 thấy rằng: Tại Điều 3 của Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, quy định về những trường hợp không cho hưởng án treo trong đó trường hợp người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội. Các bị cáo đã phạm tội hai tội đối với tội phạm nghiêm trọng, đối chiếu với hành vi phạm tội của các bị cáo thì các bị cáo không thuộc trường hợp để áp dụng án treo.

Cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 của BLHS đối với bị cáo Lê Văn T2 và bị cáo Lê Đình Q1 là không phù hợp pháp luật vì các bị cáo phạm hai tội đều là tội phạm nghiêm trọng.

Từ những phân tích đánh giá nêu trên xét thấy kháng cáo của các bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Án phí phúc thẩm: Các bị cáo Hồ Công T, Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Lê Văn C1, Lê Văn T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, vì kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 351 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS (Đối với bị cáo Hồ Công T).

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS (Đối với bị cáo Nguyễn Đình C).

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS (Đối với bị cáo Hồ Công T1).

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS(Đối với bị cáo Lê Văn C1).

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS(Đối với bị cáo Lê Văn T2).

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; Sửa án sơ thẩm về thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Hồ Công T1 và không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn T2 và bị cáo Lê Đình Q1: Giữ nguyên về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo theo bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể:

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Công T, Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Lê Văn C1, Lê Văn T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  1. Xử phạt: Bị cáo Hồ Công T 5 (Năm) năm về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (Hai) năm 6 (S1) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Hồ Công T phải chấp hành hình phạt chung là 7 (Bảy năm) năm 6 (S1) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi thành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023).
  2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình C 2 (Hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Đình C phải chấp hành hình phạt chung là 4 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi thành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023).

  3. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Hồ Công T1 2 (Hai) năm 3 (Ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Hồ Công T1 phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm 3 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi thành án.

  4. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C1 2 (Hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 2 (H6) năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Lê Văn C1 phải chấp hành hình phạt chung là 4(B) năm tù, Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi thành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24/4/2023 đến ngày 20/9/2023).

  5. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T2 15(Mười lăm) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và 15 (Mười lăm) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Lê Văn T2 phải chấp hành hình phạt chung là 30 (Ba mươi) tháng tù, Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi thành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 25/4/2023 đến ngày 20/9/2023).

* Về án phí: Các bị cáo Hồ Công T, Nguyễn Đình C, Hồ Công T1, Lê Văn C1 và bị cáo Lê Văn T2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự phúc thẩm.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Như Xuân;
  • - TAND huyện Như Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Như Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HSPT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 28/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Công T cùng đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger