TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 13/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quang;
2. Ông Trần Hữu Lượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 13/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 18/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 27/02/2025 đối với các bị cáo:
Lại Văn T, sinh ngày: 14/10/1994 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lại Văn T1, sinh năm: 1974 và bà Đỗ Thị T2, sinh năm: 1974; Vợ: Trừ Thị T3, sinh năm 1998, con có 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 18/12/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Nguyễn Văn B, sinh ngày: 15/4/1991 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và Dương Thị A, sinh năm 1959; Vợ: Dương Thị D, sinh năm 1991, con có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 18/12/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Đặng Mùi C, sinh năm 2004. Nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Nơi ở hiện nay: Thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Chị Vàng Thị H1, sinh năm 2005. Nơi đăng ký HKTT: Bản Lằn, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi ở hiện nay: Thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1991. Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Chị Dương Thị H2, sinh năm 2001. Nơi đăng ký HKTT: Xóm N, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Anh Trần Duy H3, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Anh Trần Văn C1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn X. Xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Anh Lưu Đức M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Anh Dương Tôn B1, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Chị Lý Thị L, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn B, cư trú tại thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, có mở quán hát Karaoke tại nhà (có giấy phép kinh doanh ngày 08/01/2021) và Lại Văn T, cư trú tại thôn C, xã N, huyện S, cũng mở quán hát Karaoke tại nhà (có giấy phép kinh doanh ngày 09/11/2020).
Tháng 6/2024, Đặng Mùi C, cư trú tại thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng và Vàng Thị H1, cư trú tại Bản L, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu đến quán hát Karaoke của B làm nhân viên phục vụ rót bia cho khách hát. Tháng 11/2024, Nguyễn Thị T4, cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Khánh Hòa và Dương Thị H2, cư trú tại xóm N, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng đến quán hát Karaoke của T làm nhân viên phục vụ rót bia cho khách hát.
Bằng thỏa thuận với C và H1, T thỏa thuận với T4 và H2 sẽ nuôi ăn ở, khi khách hát Karaoke thì có nhiệm vụ rót bia, chọn bài hát cho khách. Bằng và T trả công 150.000 đồng/giờ, khi khách hát có nhu cầu mua dâm thì C, H1, T4 và H2 tự thỏa thuận với khách và được hưởng 500.000 đồng/lần bán dâm, nhưng phải xin ý kiến và được sự đồng ý của B và T, không được mua bán dâm tại quán hát. Trường hợp khách đến quán của T nhưng không hát mà muốn đưa nhân viên đi mua bán dâm thì T sẽ giữ lại 200.000 đồng/01 lần bán dâm, trả cho T4 và H2 300.000 đồng/01 lần bán dâm. Bằng không thu tiền mua bán dâm của C và H1.
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, Trần Duy H3, cư trú tại thôn N, xã T, huyện S và Trần Văn C1, cư trú tại thôn X, xã Đ, huyện S đến hát tại phòng số 01 quán Karaoke của T. T bảo T4, H2 và Lý Gạ N, cư trú tại Bản T, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu vào rót bia, chọn bài. Cùng khoảng thời gian 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, Lưu Đức M, cư trú tại thôn C, xã T, huyện S; Dương Tôn B1, Hoàng Văn L1, cùng cư trú tại thôn T, xã T, huyện S và Dương Văn K, cư trú tại thôn V, xã T, huyện S đến hát tại phòng số 03 quán Karaoke của B. Bằng bảo C, H1, Lô Thị D1, cư trú tại thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và người phụ nữ tên P là nhân viên phục vụ ở quán hát khác đến vào rót bia, chọn bài.
Sau khi hát xong khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, H3 và C1 ra quầy thanh toán tiền hát và thỏa thuận với T về việc mua dâm với T4 và H2. T đồng ý cho T4 và H2 đi bán dâm 500.000 đồng/người/lần mua dâm. Cảnh chuyển khoản 1.900.000 đồng đến số tài khoản 1410199468668 M1 của T (trong đó 1.400.000 đồng là tiền hát, 500.000 đồng là tiền mua bán dâm), H3 đưa T 500.000 đồng tiền mua bán dâm. Sau đó T đưa lại cho C1 và H3 1.000.000 đồng để trực tiếp trả tiền mua dâm cho T4 và H2. Khoảng 02 giờ cùng ngày, M và B1 ra quầy thanh toán tiền hát và nói với B cho C và H1 đi mua bán dâm, B đồng ý và thoả thuận là 500.000 đồng/người/lần mua dâm.
Sau đó C1, H3, T4 và H2; M, B1, C và H1 đến nhà nghỉ Đ của Lý Thị L, tại thôn C, xã T, huyện S (L có giấy phép ngày 25/6/2021 kinh doanh Dịch vụ lưu trú ngắn ngày) thuê phòng để mua bán dâm. C1 và H2 thuê phòng số 201, H3 và T4 thuê phòng số 204, M và C thuê phòng số 203, B1 và H1 thuê phòng số 302 (L nghĩ là các đôi nam nữ yêu nhau đến thuê phòng nghỉ), khi các đôi nam nữ đang quan hệ tình dục (mua bán dâm) thì bị Công an huyện S kiểm tra phát hiện và lập biên bản hồi 03 giờ 05 phút cùng ngày. Sau đó T và B đến Cơ quan CSĐT Công an huyện S về hành vi phạm tội của mình.
Tại cáo trạng số 30/CT-VKSSD ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với các bị cáo Lại Văn T và Nguyễn Văn B về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lại Văn T và Nguyễn Văn B theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lại Văn T và Nguyễn Văn B phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lại Văn T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/3/2025).
Giao bị cáo Lại Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện S giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/3/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 04 bao cao su, đã qua sử dụng; 04 vỏ bao cao su đã xé rách, nhãn hiệu Good.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). (Theo Uỷ nhiệm chi, chuyển khoản số 6, lập ngày 26/02/2025 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang với đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).
Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí và đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng các bị cáo ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất có cơ hội được lao động giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên đây đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tại quán Karaoke của Lại Văn T, thuộc thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Lại Văn T đã có hành vi môi giới cho 02 đôi nam nữ là Nguyễn Thị T4, cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Khánh Hòa bán dâm cho Trần Duy H3, cư trú tại thôn N, xã T, huyện S và Dương Thị H2, cư trú tại xóm N, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng bán dâm cho Trần Văn C1, cư trú tại thôn X, xã Đ, huyện S, tại nhà nghỉ Đ của Lý Thị L thuộc thôn C, xã T, huyện S. Số tiền mua bán dâm là 500.000 đồng/người/lần.
Khoảng 02 giờ ngày 15/12/2024, tại quán Karaoke của Nguyễn Văn B, thuộc thôn X, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nguyễn Văn B đã có hành vi môi giới cho 02 đôi nam nữ là Đặng Mùi C, cư trú tại thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng bán dâm cho Lưu Đức M, cư trú tại thôn C, xã T, huyện S và Vàng Thị H1, cư trú tại Bản Lằn, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu bán dâm cho Dương Tôn B1, cư trú tại thôn T, xã T, huyện S, tại nhà nghỉ Đ của Lý Thị L thuộc thôn C, xã T, huyện S. Số tiền mua bán dâm là 500.000 đồng/người/lần.
Hành vi của bị cáo Lại Văn T và Nguyễn Văn B đã phạm vào tội “Môi giới mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là đúng người, đúng tội, có căn cứ.
Về tính chất của hành vi:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là độc lập, bị cáo T và B kinh doanh karaoke ở hai địa bàn khác nhau, không quen biết nhau, không có sự bàn bạc, thống nhất về việc môi giới mại dâm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục. Mại dâm là nguyên nhân lây truyền các bệnh xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc môi giới mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.
Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự nên xét thấy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 04 bao cao su, đã qua sử dụng; 04 vỏ bao cao su đã xé rách, nhãn hiệu Good.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền thực hiện hành vi mua bán dâm 2.000.000 đồng (trong đó: Dương Tôn B1 giao nộp 500.000 đồng, Lưu Đức M giao nộp 500.000 đồng, Nguyễn Thị T4 giao nộp 500.000 đồng, Dương Thị H2 giao nộp 500.000 đồng).
Hành vi mua bán dâm của Nguyễn Thị T4, Trần Duy H3, Dương Thị H2, Trần Văn C1, Đặng Mùi C, Lưu Đức M, Vàng Thị H1 và Dương Tôn B1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện S để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với Lý Thị L không biết việc T4, H3, H2, C1, C, M, H1 và B1 đến nhà nghỉ do L làm chủ, thuê phòng để mua bán dâm nên không đề cập xử lý.
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Lại Văn T và Nguyễn Văn B phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Xử phạt: bị cáo Lại Văn T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/3/2025).
Giao bị cáo Lại Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện S giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/3/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 04 bao cao su, đã qua sử dụng; 04 vỏ bao cao su đã xé rách, nhãn hiệu Good.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). (Theo Uỷ nhiệm chi, chuyển khoản số 6, lập ngày 26/02/2025 giữa đơn vị trả tiền Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang với đơn vị nhận tiền Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).
Căn cứ Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Lại Văn T và Nguyễn Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Huyền Trang |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm (môi giới mại dâm)
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lại Văn T và Nguyễn Văn B
