|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HSPT Ngày: 07/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Bà Phạm Thị Minh Hiền.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và ngày 07/3/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 303/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn V, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HSST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và Quyết định giám đốc thẩm số 19/2024/HS-GĐT ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo: Phạm Văn V, sinh năm 1981; giới tính: nam; (tên gọi khác: không).
Nơi cư trú: tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt NamDân tộc: kinh
Tôn giáo: không Nghề nghiệp: tự do Văn hóa: lớp 12/12
Con ông: Phạm Đình T, sinh năm 1952; Con bà: Lê Thị S, sinh năm 1952;
Vợ: Vũ Thị Thu H, sinh năm 1985 (đã ly hôn);
Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017;
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Bản án số 139/HSST ngày 07/11/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thử thách 04 năm về tội Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ (chấp hành xong án phí tháng 3 năm 2004)
- - Bản án số 11/2006/HSPT ngày 11/01/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản, cộng với 02 năm tù của bản án 139/HSST ngày 07/11/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Buộc chấp hành 06 năm tù (chấp hành xong án phí, bồi thường dân sự ngày 10/01/2006; chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2010);
- - Bản án số 486/2012/HSST ngày 22/9/2012 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2017; chấp hành xong án phí ngày 20/9/2013).
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/10/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: anh Cáp Trung Q, sinh năm 1984. (có mặt)
Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Đình T, sinh năm 1952. (có mặt ngày 06/3, vắng mặt ngày 07/3).
2. Bà Lê Thị S, sinh năm 1952 (có mặt).
Nơi cư trú: Tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, trong vụ án còn có một số người làm chứng, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2022, anh Cáp Trung Q, sinh năm 1984, đăng ký hộ khẩu: Thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang đến nhà anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1975, trú tại thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang chơi. Tại nhà anh N lúc này có anh N cùng một số người khác (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đang đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa. Anh Q không tham gia đánh bạc mà ngồi uống nước một lúc rồi ra về. Theo anh Q khai nhận, vài ngày sau, anh Q đang ở nhà thì có một số đối tượng đến, tự xưng là đàn em của Phạm Văn V, sinh năm 1981, trú tại Tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang đến và yêu cầu anh Q đến nhà V để nói chuyện (anh Q không biết những người này). Do biết V là đối tượng đàn anh trong xã hội, anh Q miễn cưỡng đồng ý, anh Q không dám đi một mình nên đã điện thoại cho Trần Văn H1, sinh năm 1981, trú tại thôn S, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang đi cùng. Khi anh Q cùng H1 đến nhà V nói chuyện thì V nói anh Q có liên quan đến sự việc đánh bạc bịp ở nhà anh N, những người bị bịp đều là đàn em của V và yêu cầu anh Q giải quyết việc này. Anh Q nói bản thân không liên quan gì thì bị Nguyễn Lê Phượng H2, sinh năm 1993, trú tại thôn D, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang ở sân nhà V đấm anh Q vài cái. V nói với anh Q: “Bây giờ có H1 ở đây, H1 là bạn tao, nếu H1 nó đứng ra giải quyết giúp mày thì tao cho mày về, nhưng tao gọi là phải lên”. Sau đó V cho anh Q ra về. Sau khi về, anh Q nói chuyện với H1 rằng bản thân không liên quan gì đến việc cờ bạc bịp thì H1 nói H1 cũng không biết cụ thể thế nào mà chỉ nghe V nói thì biết như vậy. Anh Q hỏi H1 hướng giải quyết thế nào thì H1 nói với anh Q rằng V bảo muốn yên ổn thì đưa cho V 200.000.000 đồng thì V khác bỏ qua. Do sợ nên anh Q đưa cho H1 số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) nhờ H1 đưa cho V 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), còn lại 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) là tiền anh Q cảm ơn H1 giúp đỡ. Sau đó anh H1 mang tiền và cùng anh Q đến nhà V. Đến nơi, H1 đi vào trong nhà gặp nói chuyện với V, còn anh Q đứng ngoài sân chờ. Một lúc sau, V và H1 đi ra. H1 nói với anh Q là đã đưa tiền xong cho V. Còn V yêu cầu anh Q phải khai rằng anh N cũng liên quan đến việc bịp cờ bạc, đồng thời yêu cầu anh Q nói để V ghi âm làm căn cứ làm việc với anh N. Sau khi ghi âm xong thì anh Q ra về. Kể từ đó không thấy V gọi nữa nên anh Q nghĩ rằng việc của mình đã xong. Đến ngày 26/8/2022, V gọi điện cho anh Q, nói với anh Q rằng V nghe được tin đồn V nhận của anh Q số tiền 200.000.000 đồng để giúp giải quyết mâu thuẫn xã hội của anh Q, trong khi V không nhận được khoản tiền nào. V yêu cầu anh Q phải làm rõ việc này. Quá trình gọi điện, anh Q giải thích việc trước đây có đưa cho H1 số tiền 200.000.000 đồng để H1 đến gặp V nhờ giúp giải quyết mâu thuẫn cá nhân của anh Q, còn việc H1 có đưa tiền cho V hay không thì anh Q không biết chứ anh Q khẳng định không đưa trực tiếp tiền cho V. Sau khi nghe anh Q giải thích, V không đồng ý bỏ qua mà yêu cầu anh Q đưa H1 đến gặp V để nói chuyện, làm rõ sự việc. Anh Q tìm H1 nhưng không thấy, không liên lạc được với H1 thì nói lại việc này cho V biết và xin V bỏ qua nhưng V không đồng ý và dọa anh Q nếu không giải quyết dứt điểm thì V sẽ không bỏ qua.
Trưa ngày 27/8/2022, V cùng Nguyễn Văn N1, sinh năm 1992, trú tại thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Chu Quang Đ, sinh năm 1997, trú tại thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Lê Phượng H2 đi đến nhà gặp anh Q. V yêu cầu anh Q gọi H1 đến gặp để nói chuyện. Rồi V, N1, Đ, H2 đưa anh Q ra quán cà phê 1945 ở thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, anh Q trình bày việc không tìm được H1 thì bị N1 và Đ dùng tay tát vào mặt, còn V vẫn yêu cầu anh Q phải giải quyết, sau đó ra về. Vài ngày sau, V nhiều lần gọi điện thúc giục anh Q thì anh Q bảo V là không tìm được H1 thì phải làm thế nào, V bảo anh Q: “Trước mày muốn giải quyết thế nào thì giờ cứ thế mà làm”. Anh Q nghe vậy thì hiểu rằng phải đưa cho V 200.000.000 đồng, nhưng anh Q không có tiền, nhưng do sợ V nên nói với V xin khất để lo tiền và hẹn V đến ngày 10/9/2022 sẽ đến gặp V, V đồng ý.
Đến ngày 10/9/2022, anh Q một mình đến nhà V để nói chuyện. Tại nhà V, anh Q trình bày về việc đã tìm mọi cách để lo số tiền 200.000.000 đồng trả cho V nhưng không được và tiếp tục xin V bỏ qua nhưng V không chấp nhận. Anh Q xin V cho thêm thời gian để lo tiền thì V đồng ý cho thêm thời hạn đến ngày 20/9/2022, rồi V lấy quyển sổ tay của V đưa cho anh Q, yêu cầu anh Q viết giấy vay tiền vào tờ giấy trong sổ. Lúc này, do sợ V nên anh Q buộc phải chấp nhận viết giấy. V đọc cho anh Q viết tờ “Giấy cam kết vay tiền” với nội dung ngày 10/9/2022 anh Q vay của V số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/9/2022 thì trả tiền. Viết xong, V giữ giấy, còn anh Q ra về. Đến ngày 20/9/2022, V điện thoại cho anh Q nhưng do không có tiền nên anh Q không dám nghe máy và đi khỏi nhà vì sợ V đến tìm. Sau khi V điện cho anh Q nhiều cuộc không được thì ngày 02/10/2022, V đi cùng N1, Đ, H2 đến nhà anh Q. Đến nơi, V một mình đi vào trong nhà gặp bà Đặng Thị A, sinh năm 1954 (mẹ đẻ anh Q), còn N1, Đ, Hoàng đứng ở ngoài cửa, sau khi bà A cho biết anh Q không có nhà thì V nói với bà A: “B thằng Q về mà lo trả tiền, không trốn được đâu, sau bắt được thì đừng trách”, rồi V cùng cả nhóm ra về.
Sau khi V về, bà A liên lạc gọi anh Q về nhà nói chuyện thì anh Q kể lại cho bà A và ông Cáp Trung V1, sinh năm 1940 ( là bố đẻ Q) về việc bị V ép viết giấy vay tiền với số tiền 200.000.000 đồng trong khi hoàn toàn không có việc vay mượn này. Ông V1, bà A vì lo sợ các đối tượng tìm thấy sẽ đánh anh Q và muốn anh Q yên ổn làm ăn, không phải trốn tránh nữa nên ông V1, bà A lấy tiền đưa cho anh Q để anh Q trả tiền cho V. Sau khi được bố mẹ đồng ý cho tiền để trả cho V thì anh Q điện thoại hẹn V đến nhà mình lấy tiền.
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 04/10/2022, V một mình đi xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, biển kiểm soát 98A-493.92 đến nhà anh Q. Tại đây, V gặp anh Q, bà A, ông V1. Bà A đưa cho anh Q 200.000.000 đồng, rồi anh Q đưa số tiền này cho V, đồng thời ông V1 đưa cho V 01 tờ giấy yêu cầu V viết “Giấy nhận tiền”. Viết xong, V cầm tiền và lấy tờ “Giấy cam kết vay tiền” mà anh Q viết ngày 10/9/2022 đưa cho anh Q thì bị công an bắt quả tang thu giữ trên người V 01 túi nilon màu xanh có một số lượng tiền mặt gồm nhiều tờ mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đen, số Imei: 351859074653753; 01 tờ giấy ô ly có các chữ và số; 01 bít bị vỏ bằng nhựa màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 13Promax, số Imei 355325329051173; 01 sổ có bìa bằng da màu đen có chữ RICOH bên trong có 16 tờ có ghi các chữ và số; 01 mũ cối màu xanh; 01 bao thuốc lá hiệu 555 bên trong có 6 điếu thuốc và 01 túi nilon màu trong suốt có rãnh khóa bằng nhựa bên trong có chất bột màu trắng; 01 máy lửa màu đỏ; 01 đồng hồ đeo tay; Thu giữ của anh C Trung Quang 01 giấy cam kết vay tiền đề ngày 10/9/2022; 01 giấy nhận tiền đề ngày 04/10/2022; thu giữ tại cửa nhà anh Q 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfat, biển kiểm soát 98A-493.92. Cơ quan điều tra đã niêm phong các vật chứng thu giữ.
Ngày 04/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của V. Kết quả thu giữ bên trong ngăn tủ lạnh tại phòng ngủ của V 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa màu đỏ, bên trong có 01 gói nilon màu hồng đỏ chứa chất màu đen (nghi là ma túy); 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất màu đen dính giấy bên ngoài, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX”.
Ngày 05/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định số 218/QĐ trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang V và chất màu đen thu giữ khi khám xét nơi ở của V.
Ngày 12/10/2022, Phòng K Công an tỉnh B có kết luận số 1830/KL-KTHS kết luận:
- Trong 01 phong bì đã được niêm phong gửi giám định
- - Chất cục bột màu trắng đựng trong một túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “555” là ma túy, có khối lượng 0,234 gam, loại Heroine.
- Trong 01 phong bì ký hiệu KX đã được niêm phong gửi giám định
- - Chất cục màu đen đựng trong 01 gói nilon màu hồng đỏ là nhựa thuốc phiện, có khối lượng 1,649 gam.
- - Chất cục màu đen bên ngoài dính giấy, bên trong đựng 01 gói nilon màu trắng không tìm thấy thành phần chất ma túy, có khối lượng 1,900 gam.
Ngày 06/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định số 220/QĐ trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đối với đĩa DVD chứa 02 file ghi âm và 01 file video do anh Cáp Trung Q cung cấp ngày 04/10/2022. Ngày 09/10/2022, Phòng K Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 1808/KL-KTHS kết luận:
- - Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video tên “20221002.mp4”; dung lượng: 24,4MB; thời lượng: 04 phút 42 giây được lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell, màu vàng. Nội dung các cuộc hội thoại trong file video được dịch ra văn bản.
- - Nội dung cuộc hội thoại trong file audio có tên "FILE_20220827_122717_Ghi âm cuộc gọi 0818018686_220826_222900.m4a”, dung lượng: 10,6MB, thời lượng 11 phút 23 giây lưu trong đĩa DVD-R gửi giám định được xác định ra văn bản.
Ngày 10/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định số 222/QĐ trưng cầu V3 – Bộ Y đối với bao thuốc lá và các túi nilong chứa chất ma túy đã thu giữ. Ngày 14/10/2022, V3 – Bộ Y có Kết luận giám định số 464/22/TC-ADN kết luận:
- - ADN thu trên vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “555”, chiếc bật lửa, chiếc túi nilon trong phong bì ghi “Vỏ, bao, gói hoàn lại của KX”, mảnh nilon màu trắng, mảnh nilon màu hồng là ADN trộn lẫn của nhiều người và không thể tách rời ADN của từng người riêng biệt nên không thể so sánh với ADN của Phạm Văn V.
- - Không thu được dữ liệu ADN đầy đủ từ chiếc túi nilon trong phong bì có vỏ bao thuốc lá trên các locus STR đã phân tích nên không thể so sánh với ADN của Phạm Văn V.
Ngày 01/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định số 38/QĐ trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đối với đĩa DVD chứa 01 (một) file video do anh Cáp Trung Q cung cấp ngày 05/10/2022. Ngày 15/02/2023, Phòng K Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 250/KL-KTHS kết luận:
- - Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) file video có tên “20221004_183022.mp4", dung lượng: 94,8MB; thời lượng: 17 phút 59 giây lưu trong đĩa DVD-R gửi giám định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã kiểm tra số tiền thu giữ của V (đây là số tiền V cưỡng đoạt tài sản của anh Q). Kết quả xác định tổng số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã kiểm tra chiếc xe ô tô thu giữ của V. Kết quả thu giữ 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn V2.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã kiểm tra điện thoại của anh Q, điện thoại thu giữ của V, kết quả trại điện thoại của anh Q có nhiều tin nhắn đe dọa ép anh Q đưa tiền, V thừa nhận là tin nhắn do V nhắn tin.
Quá trình điều tra Phạm Văn V khai nhận toàn bộ hành vi Cưỡng đoạt tài sản như trên: Lý do, V gọi anh Q đến hỏi về việc cờ bạc bịp là do trước đó V nhận được điện thoại của anh Lê Văn T1, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang nhờ V đứng ra giải quyết việc anh T1 cùng 03 người khác gồm: Nguyễn Công T2, sinh năm 1987; Đặng Văn H3, sinh năm 1987, cùng trú tại thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang và anh T3 (chưa xác định rõ địa chỉ) bị anh Q bịp cờ bạc dẫn đến thua mất khoảng 05 tỷ đồng. Sau đó T3, T2, H3 tự đến nhà V gặp V. Khi gặp V thì T3, T2 và H3 đều trình bày Q là người đã bịp cờ bạc và đặt vấn đề nhờ V giải quyết yêu cầu anh Q trả lại tiền đã bịp cờ bạc được cho T1, T2, H3, T3. Do được nhờ nên V mới yêu cầu anh Q đến nói chuyện và yêu cầu anh Q giải quyết. Khi gặp V, anh Q thừa nhận đã bịp cờ bạc. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T1 và Nguyễn Công T2 thừa nhận từng tham gia đánh bạc tại nhà anh N, có biết việc mọi người phát hiện việc bịp cờ bạc tại nhà Năm, nhưng ngày phát hiện bịp cờ bạc thì T1, T2 không có mặt tham gia đánh bạc tại đó. T1 khẳng định không nhờ V giải quyết việc bị bịp cờ bạc. T2 trình bày V là người gọi T2 đến gặp và hỏi về việc bị bịp cờ bạc chứ không phải Tình tự đến nhờ V. Khi gặp V, T2 cũng không nhờ V giải quyết việc này. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa V với T2 và V với T1. Quá trình đối chất, V, T2, T1 đều giữ nguyên quan điểm khai báo. Ngoài lời khai của V, T2, T1 thì không có tài liệu nào khác thể hiện nội dung này. Bị can V trình bày có tài liệu ghi âm thể hiện, tuy nhiên đến nay bị can không cung cấp được tài liệu ghi âm này. Đối với Đặng Văn H3 và T3, Cơ quan điều tra đã xác minh, tuy nhiên không xác định được nơi ở của H3 và T3 nên không triệu tập làm việc được.
Về nguồn gốc số ma túy:
Ngày 01/10/2022, V mua một số lượng ma túy của một người không quen biết tại khu vực ngã ba T thuộc thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), mục đích để sử dụng. Số ma túy này (loại chất cục bột màu trắng) được đựng trong 01 gói nilon. Sau khi mua, V để gói nilon chứa ma túy này vào trong 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “555”. Ngày 04/10/2022, khi V đến nhà anh Q để nhận tiền, V mang theo bao thuốc lá “555” này và bị thu giữ khi bắt quả tang.
Ngoài ra, năm 2017, trong một lần đi chơi tại tỉnh Điện Biên, V xin được của một người không quen biết một số lượng thuốc phiện, đựng trong 01 gói nilon màu hồng đỏ, bên ngoài là 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ, mục đích sử dụng hầm gà cho chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1985, trú tại Khu A, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh (thời điểm đó là vợ của V) để bồi bổ sức khỏe khi chị H sinh cháu Phạm Bảo Trâm A1 (con gái V). Sau khi xin được số ma túy này, V mang về để trong tủ lạnh phòng ngủ của mình tại tầng 3 của gia đình. Thỉnh thoảng, V lấy một ít đưa cho bà Lê Thị S, sinh năm 1952 (mẹ đẻ của V) để cho vào hầm gà.
Đối với các đối tượng: Nguyễn Văn N1, Nguyễn Lê Phượng H2 và Chu Quang Đ. Quá trình điều tra Phạm Văn V trình bày N1, H2, Đ không biết việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với anh Q. Ngày 27/8/2022, do V không có xe, không biết nhà anh Q nên đã nhờ N1 (có xe ô tô) chở đi, nhờ H2 đưa đến vì H2 biết nhà Q, rủ Đ đi cùng vì thời điểm đó Đ đang chơi ở nhà V. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập các đối tượng này đến làm việc để làm rõ. Tuy nhiên, các đối tượng không có mặt ở địa phương. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm người đối với các đối tượng nhưng chưa có kết quả nên không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với việc anh Q trình bày sau khi bị V gọi đến yêu cầu giải quyết việc bịp cờ bạc, anh Q đã đưa cho H1 số tiền 200.000.000 đồng và cùng H1 đến nhà V để đưa số tiền này cho V. Khi đến nhà V, anh Q không được vào nhà mà chỉ có H1 cầm tiền vào gặp V. Sau đó H1 đi ra và thông báo đã đưa tiền cho V nên anh Q cho rằng đã giải quyết xong việc. Tuy nhiên, bị can V trình bày H1 không đưa cho bị can khoản tiền nào, nhưng sau đó lại bị đồn rằng V đã nhận tiền nên mới yêu cầu anh Q làm rõ. Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập đối với H1 để làm rõ nội dung này nhưng H1 không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa V và anh Q, quá trình đối chất, V và anh Q giữ nguyên lời khai. Căn cứ tài liệu thu thập được không đủ cơ sở xác định V nhận số tiền 200.000.000 đồng này của anh Q nên không đủ căn cứ xử lý. Anh Q cũng không có yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền này.
Đối với hành vi đánh bạc của T1, T2, Năm: Quá trình điều tra, T1, T2, N thừa nhận có tham gia đánh bạc tại nhà Năm. Tuy nhiên không đủ căn cứ xác định thời điểm đánh bạc, số lượng tiền sử dụng để đánh bạc nên không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với bà Lê Thị S và chị Vũ Thị Thu H: Quá trình điều tra xác định bà S và chị H biết việc V có số ma túy (nhựa thuốc phiện). V có vài lần lấy nhựa thuốc phiện đưa cho bà S để hầm gà cho chị H bồi bổ sức khỏe. Tuy nhiên, bà S là mẹ đẻ của V, chị H thời điểm đó là vợ của V nên không phạm tội.
Đối với việc anh Q bị H2, N1, Đ đánh, không để lại thương tích, anh Q không có đề nghị gì nên không xem xét xử lý.
Về dân sự: Ngày 14/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định xử lý vật chứng số 69/QĐ, trả lại cho anh Cáp Trung Q số tiền: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), anh Q đã nhận đủ và không có yêu cầu gì về dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho V
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast biển kiểm soát 98A-493.92, V khai mượn xe của Nguyễn Văn N1 để sử dụng đi lại, N1 không biết V mượn xe để đi thực hiện hành vi phạm tội. Do chưa triệu tập làm việc được với N1 nên Cơ quan điều tra tách chiếc xe nói trên để tiếp tục xác minh xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKS -HH ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 170 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HSST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xử phạt: Phạm Văn V 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Ngày 21/8/2023 bị cáo Phạm Văn V kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Bản án hình sự phúc thẩm số 177/2023/HSPT ngày 02/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
* Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V, sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm a khoản 3, Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn V 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn V 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 (năm) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/10/2022.
Xác nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Quyết định giám đốc thẩm số 19/2024/HS-GĐT ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 382; khoản 3 Điều 388; Điều 391 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 07/QĐ-VC1-HS ngày 02/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 177/2023/HSPT ngày 02/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về phần trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn V. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 13/12/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý lại vụ án theo Quyết định giám đốc thẩm của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Phạm Văn V giữ nguyên kháng cáo và trình bày: bị cáo đã rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo mức án như vậy là cao. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo biết anh Q phải đi điều trị nên bị cáo đã tác động đến gia đình đến gặp động viên, thăm hỏi và bồi thường cho anh Q, hỗ trợ tiền đi lại cho anh Q đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại là anh Cáp Trung Q trình bày: anh thấy bị cáo V đã ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình có bố mẹ già, con còn nhỏ, vợ bỏ đi; bị cáo đã tác động gia đình tự giác bồi thường, khắc phục hậu quả, đã hỏi thăm động viên, xin lỗi cùng bồi thường vật chất là 20.000.000đồng cho anh. Khi xảy ra sự việc anh bị tổn hại về sức khoẻ và tinh thần, tại phiên toà hôm nay anh cung cấp cho Hội đồng xét xử hồ sơ bệnh án anh điều trị tại Trạm y tế xã B, huyện H là tài liệu chứng cứ về việc anh bị tổn hại về sức khoẻ và tinh thần, anh còn có các đơn thuốc nhưng đến nay anh không còn lưu trữ, việc gia đình bị cáo bồi thường cho anh là hoàn toàn tự nguyện. Tại cấp phúc thẩm lần hai, gia đình bị hại tiếp tục hỗ trợ cho anh số tiền 1.700.000đồng để anh lấy chi phí đi lại. Bị cáo đã ăn năn hối cải, đã phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Do đó, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Đình T trình bày: gia đình ông đã được bị cáo tác động đến thăm gặp, động viên và bồi thường cho anh Q số tiền 20.000.000đồng, việc bồi thường cho anh Q là hoàn toàn tự nguyện. Đây là tiền của gia đình ông, ông không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
Bà Lê Thị S trình bày: bà là mẹ bị cáo V bà là người hỗ trợ số tiền 1.700.000đồng để hỗ trợ cho bị hại quá trình đi lại, bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Phạm Văn V về tội “cưỡng đoạt tài sản”, sửa bản án sơ thẩm.
- 1.1 Căn cứ điểm a khoản 3, Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Phạm Văn V từ 05 (năm) năm 09 ( chín) tháng đến 06 (sáu) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”
- 1.2 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
- Xử phạt: Phạm Văn V 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 06 (sáu) năm 11 (mười một) tháng đến 07 (Bảy) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/10/2022.
Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận gì.
Anh Q trình bày tranh luận: anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn V có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định. Tòa án cấp phúc thẩm đã xem xét và giải quyết bằng Bản án hình sự phúc thẩm số 177/2023/HSPT ngày 02/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên Bản án phúc thẩm này đã bị hủy theo Quyết định giám đốc thẩm số 19/2024/HS-GĐT ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về phần trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn V và hồ sơ vụ án được giao lại cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang để xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật. Do đó, HĐXX xem xét lại kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi của bị cáo:
[2.1]. Ngày 04/10/2022, tại nhà anh Q. Do lo sợ và bị V cưỡng ép nên anh Q phải miễn cưỡng đưa cho V 200.000.000 đồng thì bị Công an huyện H bắt quả tang, quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp nơi ở của V2, Cơ quan điều tra thu giữ của V 0,234 gam ma túy loại Heroine và 1,649 gam nhựa thuốc phiện. V khai tàng trữ để sử dụng.
[2.2]. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HSST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử đối với bị cáo Phạm Văn V về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 170 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V thì thấy:
[3.1] Về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[3.1.1]. Về nhân thân: Bị cáo đã từng ba lần bị đưa ra xét xử về các tội “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ” “Cướp giật tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy bị cáo có nhân thân xấu.
[3.1.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.1.3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có mẹ đẻ được tặng Huy chương kháng chiến, bị cáo đã tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện được xác nhận của cơ quan và tổ chức thực hiện các chương trình thiện nguyện, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.1.4]. Đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản” bị cáo được bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với tình tiết bị cáo đã bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền theo yêu cầu của bị hại là 20.000.000đồng được cấp sơ thẩm áp dụng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS tại Quyết định Giám đốc thẩm số 19/2024/HS-GĐT ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã nhận định việc áp dụng tình tiết này là không có căn cứ do không có tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc người bị hại có thiệt hại về sức khoẻ và tinh thần. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị hại Cáp Trung Quang đã xuất trình được tài liệu, chứng cứ là Bệnh án tại Trạm y tế xã B, huyện H và trình bày bản thân phải đi điều trị tâm lý, uống thuốc an thần thường xuyên. Tại phiên toà phúc thẩm bố đẻ của bị cáo V cũng trình bày, quá trình thăm gặp bị cáo ở trại tạm giam bị cáo đã tác động gia đình đến động viên, thăm hỏi và bồi thường về sức khoẻ và tinh thần cho anh Q nên có căn cứ xác định anh Q có bị thiệt hại về sức khoẻ và tinh thần do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Việc bị cáo tác động gia đình đến động viên thăm hỏi, bồi thường cho anh Q, anh Q xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là hoàn toàn tự nguyện. Tội “cưỡng đoạt tài sản” xâm phạm 02 khách thể vừa là quyền về tài sản vừa là xâm phạm về nhân thân. Quá trình điều tra và tại phiên toà có căn cứ xác định anh Q bị thiệt hại về sức khoẻ và tinh thân cho bị hại. Mặc dù, bị hại không yêu cầu nhưng gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường. Do đó, có căn cứ áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3.1.5]. Tại cấp phúc thẩm lần 1, gia đình bị cáo xuất trình thêm biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; 02 Giấy khen của Chủ tịch UBND xã T, huyện M, tỉnh Hà Giang và Chủ tịch UBND xã H, huyện H tặng. Tuy nhiên, 02 giấy khen này không đúng quy định của pháp luật, hiện nay các cá nhân ký giấy khen đều bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bị xét xử về hành vi “Giả mạo trong công tác” nên hai giấy khen này không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy đinh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử đã áp dụng 02 giấy khen này để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tuy nhiên, Bản án phúc thẩm đã cấp Giám đốc thẩm huỷ để xét xử lại.
[3.2]. Về hình phạt:
[3.2.1]. Đối với hành vi phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, xét thấy: bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị hại tiếp tục có đơn và tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản” để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[3.2.2]. Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó nó còn là nguyên nhân và điều kiện phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác do đó cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[3.2.3]. Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[3.3]. Tại cấp phúc thẩm xét xử lần 1, gia đình bị cáo đã nộp biên lai về việc nộp án phí của bản án sơ thẩm, tuy nhiên việc bị cáo nộp án phí thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3.4]. Tại cấp phúc thẩm xét xử lần 2 bị hại trình bày gia đình bị cáo tiếp tục hỗ trợ cho bị hại số tiền đi lại, tiếp tục có đơn và tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Anh Q có mặt nhất trí với đề nghị giảm hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3.5]. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn V, cần sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Văn V như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn V, sửa bản án sơ thẩm.
- 1.1 Căn cứ điểm a khoản 3, Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Phạm Văn V 06 (sáu) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”
- 1.2 Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
- Xử phạt: Phạm Văn V 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 07 (Bảy) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/10/2022.
Xác nhận bị cáo đã nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Phạm Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
Bản án số 28/2025/HSPT ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (cưỡng đoạt tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 28/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cưỡng đoạt tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong các ngày 06 và ngày 07/3/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 303/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn V, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HSST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và Quyết định giám đốc thẩm số 19/2024/HS-GĐT ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
