|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 06-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Anh Quế
Ông Hoàng Hào
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Phượng, ông Đinh Văn Bình - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Văn Q, sinh năm 1994; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; nơi thường trú: Khu C, phường Đ (nay là phường Đ), thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: P, dãy nhà trọ Vũ Xuân H-Vũ Xuân L, ngõ D, tổ A, Khu C, phường Đ (nay là phường Đ), thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do (nguyên là cán bộ Công an xã H, thị xã Đ (nay là thành phố Đ) tỉnh Quảng Ninh; bố đẻ: Hoàng Văn S; sinh năm: 1970; mẹ đẻ: Phạm Thị H1; sinh năm: 1972; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ 2; có vợ: Phạm Thị Thu T, sinh năm 1997; có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị bắt từ ngày 30-6-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N;
- Họ và tên: Nguyễn Văn H2, sinh năm 2003; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; nơi thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện tại: Khu tái định cư I, KV7, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Tự do; bố đẻ: Nguyễn Văn D; sinh năm: 1970; mẹ đẻ: Trần Thị H3; sinh năm: 1972; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị bắt giam từ ngày 09-11-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N;
Tại phiên tòa: Bị cáo Q và bị cáo H2 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 15 phút, ngày 30-6-2024 tổ công tác Phòng An ninh điều tra - Công an tỉnh N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa quán C tại Số G đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS, biển kiểm soát 34C1-265.92 chở 01 bao tải màu xanh có nhiều biểu hiệu nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu nam thanh niên xuất trình giấy tờ và kiểm tra hàng hóa bên trong bao tải màu xanh. Qua kiểm tra xác định, nam thanh niên tên Hoàng Văn Q, sinh năm 1994; trú tại khu C, phường Đ (nay là phường Đ), thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh; kiểm tra bao tải màu xanh bên trong có chứa 03 hộp bìa catton, hộp thứ nhất có dán nội dung: “Người nhận: Quang Huy, SĐT: 0815.440.xxx, Quán C N, thành phố N, mã vận đơn: BGR16769"; hộp thứ 2 dán nội dung: "Người nhận: Mác cô roi, SĐT: 0383.218.xxx, địa chỉ: C chùa K, Duy N, Vũ T1, Thái Bình"; hộp thứ 3 không dán thông tin gì; trong mỗi hộp catton chứa 05 cọc tiền cùng mệnh giá 5.000 đồng, tổng số là 2767 tờ tiền thành tiền là 13.835.000 đồng. Hoàng Văn Q khai nhận toàn bộ số tiền này là giả và do chính Q làm ra đang mang đi bán cho người mua ở tỉnh Nam Định và Thái Bình. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định sau đó lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn Q.
Khám xét khẩn cấp tại phòng trọ số E, dãy nhà trọ Vũ Xuân H - Vũ Xuân L, ngõ D, tổ A, khu C, phường Đ (nay là phường Đ), thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh phát hiện thu giữ thêm 333 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (Q khai nhận toàn bộ số tiền này là giả), thành tiền là 1.665.000 đồng và nhiều đồ vật, thiết bị, máy móc liên quan đến hành vi phạm tội của Hoàng Văn Q.
Quá trình điều tra vụ án xác định được như sau: Khoảng tháng 5-2024, Hoàng Văn Q nảy sinh ý định làm tiền giả mệnh giá 5.000 đồng bán cho người có nhu cầu mua kiếm lời. Để biết cách thức và công cụ làm tiên giả, Q đã xem các video hướng dẫn làm tiền giả mệnh giá 5.000 đồng tại ứng dụng YouTube. Sau đó. Q đã mua máy Laptop, máy in đa chức năng, mực in, bàn cắt, giấy A4 để làm tiền giả. Sau khi làm được được tiền giả, Quảng đăng bài, quảng cáo, giao dịch bán tiền giả thông qua mạng xã hội Facebook, T2 và Z. Q và người mua tiền giả thống nhất được tỷ lệ giá bán (1:2 đến 1:3) Nghĩa là 1.000.000 đồng tiền thật mua được 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng tiền giả) và số lượng tiền giả cần mua, Q yêu cầu người mua cung cấp thông tin, địa chỉ, số điện thoại đề Q gửi hàng (tiền giả) cho họ. Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 5-2024 đến khi bị bắt ngày 30-6-2024, Hoàng Văn Q đã giao dịch bán tiền giả cho 02 đối tượng: Nguyễn Văn H2, sinh năm 2003; Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện tại: Khu tái định cư I, KV7, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăn nghìn đồng) tiền giả mệnh giá 5.000 đồng với giá 1.000.000 đồng tiền thật và Phu Chí L1, sinh năm 1998; Nơi thường trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nơi ở hiện tại: Phòng 231A, nhà trọ I, ấp A, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh 11.000.000 đồng tiền giả mệnh giá 5.000 đồng với giá 4.000.000 đồng tiền thật. Cụ thể:
* Đối với hành vi giao dịch mua bán tiền giả với Nguyễn Văn H2: Khoảng giữa tháng 6-2024, quá trình tham gia mạng xã hội Facebook, Nguyễn Văn H2 thấy Facebook “Tiền là giấy” của Hoàng Văn Q đăng quảng cáo bán tiền giả nên đã chủ động nhắn tin liên hệ hỏi mua. H2 sử dụng tài khoản Telegram “Hùng N1” và Z “Lê Đức” của mình để nhắn tin giao dịch mua tiền giả với Q thông qua tài khoản Telegram, Z của Q đều có tên “Tokuda”. Sau khi hai bên đã thống nhất được tỷ lệ giá bán và số lượng tiền giả cần mua, H2 đã đặt mua của Q 2.000.000 đồng tiền giả mệnh giá 5.000 đồng với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền thật. H2 đã cung cấp thông tin để Q gửi tiền giả là: Tên người nhận: “Lê Đ”, địa chỉ: Khu tái định cư I, KV7, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (đây là địa chỉ nhà thuê trọ của H2), SĐT: 0376.077.xxx. Ngày 18-6-2024, H2 nhận được bưu phẩm có mã vận đơn G83VWLU6 và thanh toán cho đơn vị vận chuyển số tiền 1.030.000 đồng (Một triệu, không trăm, ba mươi nghìn đồng; trong đó, 1.000.000 đồng là tiền mua tiền giả, 30.000 đồng là phí ship). Sau đó, H2 mang bưu phẩm vào phòng ngủ của mình tại nhà thuê mở ra kiểm tra thấy bên trong có chứa một sấp tiền mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng), kiểm đếm được 360 tờ (Ba trăm sáu mươi tờ); tương ứng 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Thấy số lượng tiền giả Q gửi không đủ, H2 đã liên lạc với Q để phản ánh nhưng không liên lạc được. Quan sát thấy các tờ tiền mua được có nhiều dãy số sê ri trùng nhau, chất lượng giấy và màu in xấu, cắt bị lệch nên H2 không dám mang tiền giả đi tiêu mà cất giấu tất cả trong phòng ngủ của mình. Khoảng một tháng sau, nhận thấy việc mua tiền giả của mình là vi phạm pháp luật nên H2 đã mang ra trước cửa nhà thuê đốt hết. Tuy nhiên, khi dọn dẹp phòng ngủ, thấy vẫn còn sót lại 20 tờ (Hai mười tờ), tương ứng 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), H2 định sẽ mang đốt, nhưng chưa thực hiện. Khi bị kiểm tra thì H2 tự nguyện giao nộp.
* Đối với hành vi giao dịch mua bán tiền giả với Phu Chí L1: Khoảng giữa tháng 6-2024 Phu Chí L1 sử dụng tài khoản Zalo “Chí Long” của mình để nhắn tin giao dịch mua tiền giả với Z “Tokuda” của Hoàng Văn Q 02 lần, cụ thể:
- Lần 01: Ngày 15-6-2024, L1 đã giao dịch mua của Q 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền giả mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền thật, L1 đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
- Lần 02: Ngày 20-6-2024, L1 tiếp tục liên hệ đặt mua của Q thêm 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền giả mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) với giá3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tiền thật; L1 đã sử dụng 255.000 đồng (Hai trăm, năm mươi lăm nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân và bán lại cho người khác. Ngày 10-7-2024, L1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Thành phố. Hồ Chí Minh phát hiện khám xét nơi ở và thu giữ 754 tờ tiền cùng mệnh giá 5.000 đồng thành tiền 3.770.000 đồng (kết quả giám định là tiền giả). Ngày 18-7-2024 Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố H đã khởi tố bị can đối với Phu Chí L1 về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” quy định tại Khoản 2 Điều 207 Bộ luật Hình sự để xử lý.
Ngày 30-6-2024 Q mang tiền giả đi bán trực tiếp cho người nhận: Quang Huy, số điện thoại 0815.440.xxx, Quán Cà phê nhà T N, thành phố N và Mác cô roi, số điện thoại 0383.218.xxx, địa chỉ: Cổng chùa K, D, Vũ T1, Thái Bình nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang, tổng số tiền bị thu giữ là 13.835.000 đồng. Khám xét thu giữ tại nhà Q thu giữ thêm 1.665.000 đồng, Q khai nhận toàn bộ số tiền giả bị thu giữ là số tiền Q làm ra.
Như vậy, tổng số tiền Q làm, tàng trữ, lưu hành là 28.300.000 đồng. Trong đó: Bắt quả tang thu giữ 13.835.000 đồng; khám xét nơi ở Quảng thu giữ 1.665.000 đồng, bán cho Nguyễn Văn H2 1.800.000 đồng; bán cho Phu Chí L1 11.000.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định 03 đối tượng: Lê Thị Kim T3, sinh năm: 2001, trú tại: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nguyễn Tấn P, sinh năm 1996, trú tại: Số A, khóm C, phường D, thành phố V; Trần Quốc B, sinh năm: 10/5/1981, trú tại: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Cả ba đều khai nhận: Sử dụng Facebook liên hệ với Hoàng Văn Q mua được 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền giả mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền thật. Sau khi nhận được tiền giả thấy chất lượng xấu nên T3, P, B đã xé bỏ. Mặc dù bản thân các đối tượng khai nhận đã giao dịch mua tiền giả của Hoàng Văn Q. Tuy nhiên, số tiền giả các đối tượng mua được không mang đi tiêu thụ, đã xé bỏ hết; Dữ liệu điện tử liên quan đến quá trình giao dịch mua tiền giả không còn lưu giữ hoặc không thể hiện rõ ràng; Bị can Hoàng Văn Q khai nhận ngoài việc bán tiền giả, Q còn bán nhiều mặt hàng khác, không xác định được chính xác việc bán tiền giả cho các đối tượng. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ tài liệu, chứng cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đới với các đối tượng này.
* Cơ quan An ninh điều tra C1 Đ1 đã ra Quyết định trưng cầu giám định toàn bộ số tiền giả và máy tính, điện thoại di động của Hoàng Văn Q:
Ngày 04-7-2024, Phòng K1 Công an tỉnh N ra Kết luận giám định số 1237/KL-KTHS, kết luận về 3100 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn Q: “Các tờ tiền Ngân hàng N3, mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) là tiền giả” (Số tiền thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp nơi ở của Q).
Ngày 14-11-2024, Phòng K1 Công an tỉnh N ra Kết luận giám định số: 1863/KL-KTHS, kết luận 20 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H2 “20 (Hai mươi) tờ tiền Ngân hàng N3, mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) là tiền giả”.
Ngày 31-10-2024, Phòng K1 Công an tỉnh N ra Kết luận giám định số 1710/KL-KTHS về việc giám định điện thoại di động, máy tính laptop thu giữ của Hoàng Văn Q: Cụ thể: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6s màu hồng, số máy: MN0V2LL/A, số Seri: F17RV56HHFLQ, số IMEI: 354955072670752; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 7 Plus màu đen, số máy: MNQW2LL/A, số Seri: FCHTF4QPHG04, số IMEI: 355346083338176 và 01 (Một) máy tính laptop màu đen, nhãn hiệu Asus, Desktop - 4K7F42, kết luận: Không xác định được các dữ liệu trích xuất, phục hồi có liên quan đến hoạt động “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiề giả” trong các mẫu giám định.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ số tiền giả, ngoài ra còn thu giữ toàn bộ số máy móc, thiết bị dụng cụ, đồ vật, tài liệu khác... các đối tượng sử dụng liên quan đến hành vi làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả.
Cáo trạng số 08/CT-VKSNÐ-P1 ngày 21-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Hoàng Văn Q về tội “Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLHS; Nguyễn Văn H2 về tội “Tàng trữ tiền giả” theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLHS.
Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Văn Q và bị cáo Nguyễn Văn H2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, các bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi các bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 207; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù về tội “Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả”. Áp dụng khoản 1 Điều 207, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 3 năm tù đến 3 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ tiền giả”.
Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H2.
Tuyên truy thu số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn Q do phạm tội mà có.
Về vật chứng: Đề nghị HĐXX. Tuyên tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước: 01 (một) Xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển kiểm soát 34C1 - 265.92 màu đen đỏ, vành đúc, số khung: RLCS5C6K0GY294181, số máy: 5C6K294185; 01 (một) máy tính laptop hãng Asus, tên máy Desktop - 4K7F42, màu đen, được niêm phòng trong túi niêm phong mã số NS1. 1902953, ký hiệu: NS1, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N; kèm 01 (một) sạc máy tính; 01 (một) máy in nhãn hiệu EPSON L8050 màu đen đã qua sử dụng, kèm 01 (một) dây kết nối máy tính, 01 (một) dây nguồn; 01 (một) chuột máy tính nhãn hiệu DAREU; 01 (một) điện thoại Iphone 6s, màu hồng; số máy: MN0V2LL/A; số seri: F17RV56HHFLQ; không có sim kèm theo; được niêm phong trong túi niêm phong mã số: 2145160, ký hiệu: PS3, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N; 01 (một) điện thoại Iphone 7Plus, màu đen; số máy: MNQW2LL/A; số seri: FCHTF4QPHG04; sim kèm theo số: 0389.354.916; được niêm phong trong túi niêm phong mã số 2145170, ký hiệu: PS3, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N. Vật chứng còn lại tuyên tịch thu tiêu huỷ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Q và bị cáo H2 tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Từ khoảng tháng 5-2024 đến khi bị bắt ngày 30-6-2024, Hoàng Văn Q đã có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành tổng số là 28.300.000 đồng (Hai mươi tám triệu, ba trăm nghìn đồng) tiền giả mệnh giá 5000 đồng (Năm nghìn đồng); chiếm hưởng bất chính số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Hành vi phạm tội của Hoàng Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 207 BLHS.
Nguyễn Văn H2 có hành vi mua của Hoàng Văn Q 1.800.000 đồng (Một triệu, tám trăm nghìn đồng) mệnh giá 5000 đồng (Năm nghìn đồng) tiền giả với giá 1.000.000 đồng tiền thật nhằm mục đích lưu hành. Tuy nhiên khi kiểm tra thấy tiền giả xấu, khác biệt so với tiền thật, do lo sợ hành vi tàng trữ tiền giả của mình bị phát hiện nên H2 đã đem đốt và chỉ còn lại 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền giả và bị phát hiện thu giữ. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ tiền giả” tội phạm và hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 207 BLHS.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội hai lần trở lên, mỗi lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo H2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án, các bị cáo Hoàng Văn Q và Nguyễn Văn H2 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, tại phiên tòa gia đình bị cáo Nguyễn Văn H2 nộp cho HĐXX xác nhận bố bị cáo có tham gia trong quân đội nên bị cáo H2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. xâm phạm đến sự độc quyền quản lý tài chính, tiền tệ và thông qua việc phát hành tiền tệ của Nhà nước; gây tác hại đến việc lưu thông tiền tệ trong thị trường; gây bất ổn cho nền kinh tế và gây mất trật tự trị an. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả là bị Nhà nước nghiêm cấm và vi phạm pháp luật nhưng do động cơ tư lợi cá nhân, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Với tính chất tội phạm nghiêm trọng được thể hiện qua số lượng tiền giả mà bị cáo đã làm, tàng trữ, lưu hành trên thị trường. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng đến trật tự an ninh kinh tế xã hội. Vì vậy hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa tội phạm nói chung. Vì vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.
[5] Hành vi của Hoàng Văn Q làm, tàng trữ, lưu hành với số tiền giả là 28.300.000 đồng và bán cho nhiều người nên Hội đồng xét xử xét thấy cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt trong khung hình phạt đã truy tố và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H2 lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm. Sau khi mua được tiền giả bị cáo không lưu hành ngoài thị trường mà đã đốt và còn giữ lại 100.000 đồng tiền giả. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nên HĐXX có đủ căn cứ để xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đã truy tố như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
[6] Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q từ 15.000.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H2. Tuyên truy thu số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn Q do phạm tội mà có.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Tuyên tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước: 01 (một) Xe máy: nhãn hiệu: YAMAHA, loại xe: SIRIUS, biển kiểm soát: 34C1 - 265.92 màu đen đỏ, vành đúc, số khung: RLCS5C6K0GY294181, số máy: 5C6K294185; 01 (một) máy tính laptop hãng A, tên máy: Desktop - 4K7F42, màu đen, được niêm phòng trong túi niêm phong mã số: NS1. 1902953, ký hiệu: NS1, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N kèm 01 (một) sạc máy tính; 01 (một) máy in nhãn hiệu EPSON L8050 màu đen đã qua sử dụng, kèm 01 (một) dây kết nối máy tính, 01 (một) dây nguồn; 01 (một) chuột máy tính nhãn hiệu DAREU; 01 (một) điện thoại Iphone 6s, màu hồng; số máy: MN0V2LL/A; số seri: F17RV56HHFLQ; không có sim kèm theo; được niêm phong trong túi niêm phong mã số: 2145160, ký hiệu: PS3, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N; 01 (một) điện thoại Iphone 7Plus, màu đen; số máy: MNQW2LL/A; số seri: FCHTF4QPHG04; sim kèm theo số: 0389.354.916; được niêm phong trong túi niêm phong mã số: 2145170, ký hiệu: PS3, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N.
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 58 (năm mươi tám) hộp catton màu vàng, chưa gấp (trong đó, 01 hộp đã sử dụng để thực nghiệm điều tra); 21 (hai mươi mốt) lọ mực loại 70ml, nhãn hiệu EPSON trong đó có 4(bốn) lọ chưa sử dụng; 06 (sáu) lọ mực 500ml nhãn hiệu Premium ink (đã sử dụng); 24 (hai mươi tư) tập giấy loại A4, màu pho kem chưa sử dụng; 01 (một) xilanh loại 25ml (đã qua sử dụng); 02 (hai) bàn cắt giấy; 01 (một) ổ điện hãng lioa; 01 (một) cuộn băng dính trắng; 01 (một) thước kẻ dài 30cm bằng nhựa; Tập giấy A4 đánh số từ 01 đến 224 (tổng 224 tờ) có in 04(bốn) hình 01(một) mặt tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5000 đồng có chữ ký Hoàng Văn Q; Tập giấy A4 đánh số từ 01 đến 238 (tổng 238 tờ) có in 04(bốn) hình 02 (hai) mặt tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5000 đồng có chữ ký Hoàng Văn Q; 01 (một) hộp catton có ghi nội dung: “thành phẩm thực nghiệm điều tra" ngày 25/9/2024, được dán niêm phong kín; trên giấy niêm phong có hình dấu của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh N, chữ ký, chữ viết của ông Trần Xuân Đ2 - Điều tra viên, bà Nguyễn Thị N2 Kiểm sát viên, bà Phạm Thị Phương L2 - người chứng kiến và bị can Hoàng Văn Q. 3100 (ba nghìn một trăm) tờ tiền “giả” Ngân hàng N3 mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) theo kết luận giám định số: 1237KL-KTHS, ngày 04/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N bao gồm các số seri với số lượng tờ tiền tương ứng như sau: QQ2125095 có 107 (một trăm linh bảy) tờ; QQ2125099 có 152 (một trăm năm hai) tờ, QQ2122000 có 289 (hai trăm tám chin) tờ; QQ2122002 có 287 (hai trăm tám bảy) tờ: QQ2125030 có 225 (hai trăm hai năm) tờ, QQ2122001 có 291 (hai trăm chín mươi mốt) tờ, QQ2122022 có 286 (hai trăm tám sáu) tờ; QQ2125239 có 151 (một trăm năm mốt) tờ, QQ2125033 có 225 (hai trăm hai năm) tờ, QQ2125039 có 221 (hai trăm hai mốt) tờ; QQ2125025 có 107 (một trăm linh bảy) tờ; QQ2125035 có 213 (hai trăm mười ba) tờ; QQ0155055 có 107 (một trăm linh bày) tờ, QQ2125092 có 150 (một trăm năm mươi) tờ; QQ0155050 có 107 (một trăm linh bảy) tờ; IG8834264 có 5 (năm) tờ; IW8091253 có 3 (ba) tờ; WQ6324009 có 6 (sáu) tờ; GW4262024 có 5 (năm) tờ; VX3690058 có 6 (sáu) tờ; FY8941287 có 01 (một) tờ; KA4306369 có 01 (một) tờ, JU7432253 có 01(một) tờ; QQ2125029 có 154 (một trăm năm bốn) tờ; 01 (một) phong bì thư trên có ghi nội dung “Hoàn trả mẫu vật kèm theo kết luận số: 1863/KL-KTHS ngày 14 tháng 11 năm 2024 cho Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh N (được niêm phong, có chữ ký, chữ viết của ông Trần Huy H4, Trần Xuân Đ2 và 03 (ba) hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh N); 03 (Ba) hộp bìa catton (Trong đó, 01 hộp có dán nội dung: “Người nhận Quang Huy, SÐT: 0815440162, Quán Cà phê nhà T N, Tp ., mã vận đơn: BGR16769"; 01 hộp có dán nội dung: "Người nhận Mác cô roi, SĐT: 0383.218.xxx, địa chỉ: C chùa K, Duy N, Vũ T1, Thái Bình"; 01 hộp không dán thông tin gì).
[8] Những vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với 02 đối tượng: Quang Huy, địa chỉ: Quán C N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Mác cô roi, địa chỉ: C chùa K, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình, là những đối tượng giao dịch mua tiền giả của Q, Q đang mang đi bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra không xác định rõ tên tuổi, lai lịch nên không đề cập xử lý. Căn cứ tài liệu trích xuất từ thiết bị điện tử của Hoàng Văn Q, thôn tin mã vận đơn của đơn vị chuyển phát và thông tin chủ thuê bao của các nhà mạng cung cấp. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, triệu tập 18 đối tượng khác có liên quan đến giao dịch với Hoàng Văn Q. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không xác định được rõ con người, thông tin địa chỉ cụ thể để triệu tập làm rõ hành vi mua bán tiền giả; bị can Hoàng Văn Q không xác định được có hay không việc bán tiền giả cho các đối tượng này. Do vậy, không có căn cứ xử lý.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả”; bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội “Tàng trữ tiền giả”.
Áp dụng khoản 2, khoản 5 Điều 207, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 7 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30-6-2024. Phạt tiền đối với bị cáo Q là 15.000.000 đồng;
Áp dụng khoản 1 Điều 207, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 3 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09-11-2024. Miễn phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn H2.
- Tuyên truy thu số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn Q do phạm tội mà có.
- Về xử lý vật chứng:
- Tuyên hoá giá sung quỹ nhà nước:
- + 01 (một) Xe máy: nhãn hiệu: YAMAHA, loại xe: SIRIUS, biển kiểm soát: 34C1 - 265.92 màu đen đỏ, vành đúc, số khung: RLCS5C6K0GY294181, số máy: 5C6K294185;
- + 01 (một) máy tính laptop hãng A, tên máy: Desktop - 4K7F42, màu đen, được niêm phòng trong túi niêm phong mã số: NS1. 1902953, ký hiệu: NS1, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N kèm 01 (một) sạc máy tính;
- + 01 (một) máy in nhãn hiệu EPSON L8050 màu đen đã qua sử dụng, kèm 01 (một) dây kết nối máy tính, 01 (một) dây nguồn, 01 (một) chuột máy tính nhãn hiệu DAREU;
- + 01 (một) điện thoại Iphone 6s, màu hồng; số máy: MN0V2LL/A; số seri: F17RV56HHFLQ; không có sim kèm theo; được niêm phong trong túi niêm phong mã số: 2145160, ký hiệu: PS3, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N;
- + 01 (một) điện thoại Iphone 7Plus, màu đen; số máy: MNQW2LL/A; số seri: FCHTF4QPHG04; sim kèm theo số: 0389.354.916; được niêm phong trong túi niêm phong mã số: 2145170, ký hiệu: PS3, có hình dấu Phòng K1 - Công an tỉnh N;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:
- + 58 (năm mươi tám) hộp catton màu vàng, chưa gấp (trong đó, 01 hộp đã sử dụng để thực nghiệm điều tra);
- + 21 (hai mươi mốt) lọ mực loại 70ml, nhãn hiệu EPSON trong đó có 4(bốn) lọ chưa sử dụng;
- + 06 (sáu) lọ mực 500ml nhãn hiệu Premium ink (đã sử dụng);
- + 24 (hai mươi tư) tập giấy loại A4, màu pho kem chưa sử dụng;
- + 01 (một) xilanh loại 25ml (đã qua sử dụng);
- + 02 (hai) bàn cắt giấy;
- + 01 (một) ổ điện hãng lioa;
- + 01 (một) cuộn băng dính trắng;
- + 01 (một) thước kẻ dài 30cm bằng nhựa;
- + Tập giấy A4 đánh số từ 01 đến 224 (tổng 224 tờ) có in 04(bốn) hình 01(một) mặt tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5000 đồng có chữ ký Hoàng Văn Q;
- + Tập giấy A4 đánh số từ 01 đến 238 (tổng 238 tờ) có in 04(bốn) hình 02 (hai) mặt tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5000 đồng có chữ ký Hoàng Văn Q;
- + 01 (một) hộp catton có ghi nội dung: “thành phẩm thực nghiệm điều tra" ngày 25/9/2024, được dán niêm phong kín; trên giấy niêm phong có hình dấu của Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh N, chữ ký, chữ viết của ông Trần Xuân Đ2 - Điều tra viên, bà Nguyễn Thị N2 Kiểm sát viên, bà Phạm Thị Phương L2 - người chứng kiến và bị can Hoàng Văn Q.
- + 3100 (ba nghìn một trăm) tờ tiền “giả” Ngân hàng N3 mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) theo kết luận giám định số: 1237KL-KTHS, ngày 04/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N bao gồm các số seri với số lượng tờ tiền tương ứng như sau: QQ2125095 có 107 (một trăm linh bảy) tờ; QQ2125099 có 152 (một trăm năm hai) tờ, QQ2122000 có 289 (hai trăm tám chin) tờ; QQ2122002 có 287 (hai trăm tám bảy) tờ: QQ2125030 có 225 (hai trăm hai năm) tờ, QQ2122001 có 291 (hai trăm chín mươi mốt) tờ, QQ2122022 có 286 (hai trăm tám sáu) tờ; QQ2125239 có 151 (một trăm năm mốt) tờ, QQ2125033 có 225 (hai trăm hai năm) tờ, QQ2125039 có 221 (hai trăm hai mốt) tờ; QQ2125025 có 107 (một trăm linh bảy) tờ; QQ2125035 có 213 (hai trăm mười ba) tờ; QQ0155055 có 107 (một trăm linh bày) tờ, QQ2125092 có 150 (một trăm năm mươi) tờ; QQ0155050 có 107 (một trăm linh bảy) tờ; IG8834264 có 5 (năm) tờ; IW8091253 có 3 (ba) tờ; WQ6324009 có 6 (sáu) tờ; GW4262024 có 5 (năm) tờ; VX3690058 có 6 (sáu) tờ; FY8941287 có 01 (một) tờ; KA4306369 có 01 (một) tờ, JU7432253 có 01(một) tờ; QQ2125029 có 154 (một trăm năm bốn) tờ;
- + 01 (một) phong bì thư trên có ghi nội dung “Hoàn trả mẫu vật kèm theo kết luận số: 1863/KL-KTHS ngày 14 tháng 11 năm 2024 cho Cơ quan ANDT - Công an tỉnh N (được niêm phong, có chữ ký, chữ viết của ông Trần Huy H4, Trần Xuân Đ2 và 03 (ba) hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh N).
- + 03 (Ba) hộp bìa catton (Trong đó, 01 hộp có dán nội dung: “Người nhận Quang Huy, SĐT: 0815.440.xxx, Quán Cà phê nhà T N, Tp mã vận đơn: BGR16769"; 01 hộp có dán nội dung: "Người nhận Mác cô roi, SĐT: 0383.218.xxx, địa chỉ: C chùa K, Duy N, Vũ T1, Thái Bình"; 01 hộp không dán thông tin gì).
(Theo biên bản giao nhận số 25/44 ngày 06/02/2025 giữa Công an tỉnh N và Cục thi hành án tỉnh Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Hoàng Văn Q, Nguyễn Văn H2 mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo Hoàng Văn Q, Nguyễn Văn H2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đức Cảnh |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả)
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả”; bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội “Tàng trữ tiền giả”. Áp dụng khoản 2, khoản 5 Điều 207, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 7 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30-6-2024. Phạt tiền đối với bị cáo Q là 15.000.000 đồng; Áp dụng khoản 1 Điều 207, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 3(Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09-11-2024. Miễn phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn H2. 2. Tuyên truy thu số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn Q do phạm tội mà có.
