|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-PT Ngày 27-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 01/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Huy T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 250/2024/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Huy T, sinh năm 1984 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ 6, ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy L và bà Phạm Thị T1; bị cáo có vợ tên Lê Thị Đ và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 14/10/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự số 174/2021/HS-ST.
- Ngày 15/5/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự số 19/2023/HS-ST.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/5/2021 trong vụ án khác cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
Trong vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Huy T và anh Lường Văn Đ1 có mối quan hệ quen biết với nhau. Anh Lường Văn Đ1 và anh Lê Sỹ T2 có quan hệ họ hàng với nhau.
Bị cáo T làm nghề môi giới bất động sản ở khu vực thành phố T, tỉnh Bình Dương do thường xuyên đến Nhà hàng Q thuộc khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương nơi anh Đ1 làm việc nên bị cáo và anh Đ1 quen biết nhau. Bị cáo giới thiệu với anh Đ1 bị cáo tên là H. Khoảng tháng 10/2020, anh T2 có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn phường H, thành phố T nên có liên hệ với anh Đ1 để nhờ tìm dùm thì Đ1 đồng ý. Sau đó, Đ1 liên hệ với T để nhờ T tìm người có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn Hội N thì T đồng ý. T dẫn Đ1 đi xem thửa đất số 764, tờ bản đồ số 04 thuộc phu phố D, phường H, thành phố T, T nói với Đ1 là đất của T. Khoảng 15 giờ, ngày 30/10/2020, Đ1 gọi điện thoại cho T2 thông báo đã tìm được đất để bán cho ông T2, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T2 đến nhà Đ1, sau đó cả hai cùng đi xem thửa đất nêu trên thì T2 đồng ý mua. Đ1 gọi điện thoại cho T đến nhà Đ1 tại khu phố A, phường H, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương để đặt cọc số tiền là 100.000.000 đồng và làm giấy biên nhận đặt cọc, trong giấy đặt cọc T có sử dụng nhân thân tên là Nguyễn Minh H, sinh năm 1984, HKTT: xã B, huyện B, Bình Dương, T có hứa trong vòng 45 ngày sau sẽ sang tên thửa đất nêu trên cho anh T2. Đến ngày 10/11/2020, T gọi điện thoại cho T2 với nội dung ứng thêm số tiền 200.000.000 đồng để T làm thổ cư nên T2 có gọi điện nhờ Đ1 chuyển cho T số tiền 200.000.000 đồng thì Đ1 đồng ý (T2 mượn Lê Sỹ T3, sinh năm 1984, HKTT: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước số tiền 100.000.000 đồng; T2 mượn Đ1 số tiền 100.000.000 đồng để Đ1 chuyển tiền cho T). Đến ngày 18/11/2020, T có đến Nhà hàng Q để ăn cơm trưa và gặp Đ1 lấy tiếp số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền 200.000.000 đồng từ anh Đ1 bị cáo T có ghi vào mặt sau của tờ giấy nhận cọc đã lập trước đó với nội dung nhận cọc thêm thửa đất số 764 số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi bị cáo nhận số tiền 300.000.000 đồng đặt cọc của anh T2, anh T2 đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại với bị cáo nhưng bị cáo hứa hẹn thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bị cáo không thực hiện, sau đó bị cáo bỏ trốn anh T2 không còn liên lạc được với bị cáo. Ngày 13/3/2021, anh T2 đến Công an phường H trình báo vụ việc. Công an phường H lập hồ sơ ban đầu sau đó chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, qua xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T (nay là thành phố T) được biết thửa đất số 764, tờ bản đồ số 04 thuộc phu phố D, phường H do ông Phạm Văn T4 và bà Nguyễn Thị T5 là chủ sử dụng, thửa đất trên hiện chưa có cập nhật thông tin đăng ký biến động về giao dịch quyền sử dụng đất. Ông T4 và bà T5 xác định không có nhờ bất kỳ ai làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cũng không có biết bị cáo T.
Ngày 23/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T (nay là thành phố T) ra Quyết định trưng cầu giám định số 150 gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương giám định chữ viết, chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay trên “giấy biên nhận đặt cọc”. Tại Kết luận giám định số 92 ngày 16/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định chữ ký, chữ viết, họ tên, dấu vân tay mang tên “Nguyễn Minh H” dưới mục “Bên A” và chữ viết nội dung trên 01 (một) “giấy biên nhận đặt cọc” đề ngày 30/10/2020 (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết và dấu vân tay ngón trỏ phải và ngón trỏ trái của Nguyễn Huy T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M6) do cùng một người ký, viết và in ra.
Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định trưng cầu giám định số 823 gửi Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh giám định 02 (hai) file hình ảnh thể hiện nội dung T nhận số tiền 200.000.000 đồng từ Đoài được lưu trữ trong 01 (một) USB nhãn hiệu SanDisk 16GB có bị cắt ghép và chỉnh sửa không. Tại Kết luận giám định số 2216 ngày 29/5/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận 02 tập tin hình ảnh ký hiệu A1, A2 không bị cắt, ghép, chỉnh sửa.
Quá trình điều tra bị cáo T không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xác định nhận chuyển nhượng đất thông qua việc chuyển nhượng cọc từ người tên T6 (không rõ lai lịch). Bị cáo không xác định được người tên T6 là ai, ở đâu và làm gì, cũng không cung cấp được giấy nhận cọc từ T6.
Tại cáo trạng số 248/CT-VKSTU ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Huy T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 250/2024/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 09 (chín) năm tù.
- Tổng hợp hình phạt 11 (mười một) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HS-ST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2021.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27/11/2024, bị cáo Nguyễn Huy T kháng cáo yêu cầu xem xét lại nội dung vụ án và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Huy T là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo của bị cáo: bị cáo phạm tội không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chưa bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T mức hình phạt 09 năm tù là phù hợp, không nặng. Do đó không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Bị cáo Nguyễn Huy T trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo có cha là ông Nguyễn Huy L là người có công với cách mạng do cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không quanh co chối tội kính mong Hội đồng xét xử xem xét lại toàn diện nội dung vụ án.
Bị cáo nói lời sau cùng: kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định; đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Huy T không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Ngày 30/10/2020, bị cáo Nguyễn Huy T đã dùng thủ đoạn gian dối để bị hại Lê Sỹ T2 tin tưởng bị cáo có quyền sử dụng đối với thửa đất số 764, tờ bản đồ số 04 thuộc khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để nhận cọc của bị hại số tiền 300.000.000 đồng, sau đó bị cáo bỏ trốn. Như vậy, Hành vi của bị cáo Nguyễn Huy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T: Bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo thực hiện xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải nghiêm trị nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Việc bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án. Bị cáo kháng cáo cung cấp thêm tình tiết có cha là ông Nguyễn Huy L là người có công với cách mạng tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như sau:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 09 (chín) năm tù.
- Tổng hợp hình phạt 11 (mười một) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HS-ST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2021.
- Án phí hình sự phúc thẩm
- Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Huy T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Chum |
Bản án số 28/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 28/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
