Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 28/2025/HSST

Ngày: 27/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Em
  2. Ông Nguyễn Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Quốc T, tên gọi khác: Ba; Giới tính: nam. Sinh năm 1981

Nơi ĐKHKTT: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 0/12.

Nghề nghiệp: đi biển

Cha: Trần C, sinh năm 1955.

Hiện ở khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Mẹ: Lê Thị Á, sinh năm 1958 (đã chết).

Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1984.

Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/11/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

2. Nguyễn Vũ T1; Giới tính: nam. Sinh năm 1988.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 4/12.

Nghề nghiệp: Thợ hồ.

Cha: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1969.

Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1969

Hiện cùng ở khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Trần Thị K, sinh năm 1987

Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2019

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 06/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Trần Quốc T lấy 01 tép ma túy đá bỏ trong túi quần (ma túy T đã mua cách khoảng 02 tháng của một người tên T4 ở khu phố T, thị trấn M với giá 300.000 đồng) rồi điều khiển xe mô tô biển số 86B1-415.35, loại xe Exciter 150 đi đến nhà của Nguyễn Vũ T1 ở khu phố P, thị trấn P, huyện H. Lúc này, T1 đang nằm ngủ trên võng bên hông nhà, T gọi T1 dậy và nói "tao có ít đồ, đổ vô chơi" (nghĩa là T rủ T1 sử dụng ma túy đá), T1 đồng ý và dẫn T đi vào phòng ngủ của T1. T ngồi dưới nền gạch, T1 đến bên hông tủ quần áo lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước bằng nhựa trong suốt có nắp chai màu vàng có đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa màu đen và 01 nỏ thủy tinh; 02 cái bật lửa để dưới nền nhà. T lấy tép ma túy cất trong túi quần ra, đổ một ít ma túy vào trong đầu phình to của nỏ thủy tinh, số ma túy còn lại T dùng bật lửa hàn lại, để vào hộp giấy chỗ T và T1 ngồi. Sau đó, T lấy bật lửa đốt ma túy trong nỏ thủy tinh hút 03 hơi rồi để xuống nền nhà, đến lượt T1 hút khoảng 02 đến 03 hơi. Thương để bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên nền nhà, gần vách tường.

Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an thị trấn P tiến hành kiểm tra, phát hiện Nguyễn Vũ T1 cùng Trần Quốc T sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng ngủ của T1. Thu giữ trong phòng 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, bên trong có chứa chất rắn màu nâu; 01 ống nhựa không màu hàn kín hai đầu, kích thước (1,2 x 3,7)cm, bên trong có chất tinh thể màu trắng; 02 bật lửa. Đồng thời đưa T, T1 về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, T, T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 06/6/2024 do Công an thị trấn P xét nghiệm thể hiện: Trần Quốc T và Nguyễn Vũ T1 đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine trong cơ thể.

Tại bản kết luận giám định số 737/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • Mẫu M1 (đoạn ống nhựa không màu, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (3,7x1,2)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng) gửi giám định có khối lượng 0,3141 gam; là Methamphetamine.
  • Mẫu M2 (ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, bên trong có chất rắn màu nâu) gửi giám định có khối lượng 0,2263 gam; là Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nhựa không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa màu đen; 01 đoạn ống nhựa không màu đã cắt lấy mẫu, kích thước khoảng (3,7 x 1,2) cm; 01 ống thủy tinh uốn cong thổi phồng một đầu; 0,2821 gam mẫu M1; 0,1800 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 737, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh B; 02 cái bật lửa.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra quyết định chuyển những vật chứng trên từ Cơ quan CSĐT – Công an huyện H đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc Bảo quản, chờ xử lý.

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, biển số 86B1-415.35 tạm giữ của Trần Quốc T. Sau khi tạm giữ và làm rõ đây là xe mô tô của bà Trần Thị Thi A (là em gái của T). Do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho bà A.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSHTB ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017) và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Nguyễn Vũ T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự(sửa đổi bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 18; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ T1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

*/Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nhựa không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa màu đen; 01 đoạn ống nhựa không màu đã cắt lấy mẫu, kích thước khoảng (3,7 x 1,2) cm; 01 ống thủy tinh uốn cong thổi phồng một đầu; 0,2821 gam mẫu M1; 0,1800 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 737, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh B; 02 cái bật lửa.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội, đồng ý với lời luận tội của kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ buộc tội bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 06/6/2024, Trần Quốc T đã mang 01 tép ma túy đến nhà Nguyễn Vũ T1 tại khu phố P, thị trấn P để sử dụng. Tại nhà T1, T1 chuẩn bị bộ dụng cụ để T lấy ma túy trong ống nhựa đổ một ít vào nỏ thủy tinh cho cả hai cùng sử dụng. Số ma túy còn lại trong ống nhựa được T hàn kín lại để bên cạnh nơi ngồi sử dụng ma túy, có tổng khối lượng qua giám định là 0,5404 gam, là Methamphetamine.

Xét các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, các bị cáo phải ý thức được M là loại ma tuý, là loại độc dược gây nghiện mà nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng ... Đây là mầm móng phát sinh các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng mà các bị cáo T mua ma túy nhằm tàng trữ để sử dụng. Tại nơi ở của bị cáo T1, các bị cáo đã chuận bị dụng cụ để cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy.

Do vậy, hành vi của các bị cáo Trần Quốc T đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017) và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017). Hành vi của bị cáo Nguyễn Vũ T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự(sửa đổi bổ sung năm 2017) .

Do đó, Cáo trạng số 11/CT-VKSHTB ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo theo khung hình phạt và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, sông tuân theo pháp luật, các quy tắc của cuộc sống và phòng ngừa tội phạm chung.

[3]. Xét tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với bị cáo T là người bỏ tiền ra để mua ma túy nhằm tàng trữ để sử dụng, trực tiếp rủ bị cáo T1 dùng địa điểm và chuẩn bị dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án và chịu trách nhiệm tương xứng với mỗi hành vi phạm tội của mình. Đối với bị cáo T1 đã dùng địa điểm do mình quản lý, chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy nên bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .Tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo với hành vi phạm tội của mình, nên hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Đối với bị cáo Trần Quốc T phạm hai tội nên áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt cho bị cáo.

[6] Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân huyện H đã phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[7] Trên cơ sở cân nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nguy hiểm cho xã hội nên cần phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội thêm một thời gian nhất định là cần thiết.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nhựa không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa màu đen; 01 đoạn ống nhựa không màu đã cắt lấy mẫu, kích thước khoảng (3,7 x 1,2) cm; 01 ống thủy tinh uốn cong thổi phồng một đầu; 0,2821 gam mẫu M1, 0,1800 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 737, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh B; 02 cái bật lửa là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng và không được phép lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Các vấn đề khác: Đối với người tên T4 ở khu phố T, thị trấn M bán ma túy cho T qua lời khai của T. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được. Do đó, Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Quốc T; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Vũ T1.
  • Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Vũ T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc T 02(hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01(một năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 03(ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/11/2024.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ T1 02(hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/11/2024.
  • Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a,c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

    Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 vỏ chai nhựa không màu, có nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa màu đen; 01 đoạn ống nhựa không màu đã cắt lấy mẫu, kích thước khoảng (3,7 x 1,2) cm; 01 ống thủy tinh uốn cong thổi phồng một đầu; 0,2821 gam mẫu M1; 0,1800 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 737, có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh B; 02 cái bật lửa.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc ).

  • Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Quốc T và Nguyễn Vũ T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án( 27/02/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện HTB;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Hơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 28/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Tuấn - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger