Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HSST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ

Ông Nguyễn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy- Thư ký của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bùi Văn T, sinh ngày 10/11/1981 tại Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: K N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị H (sống); gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con út; tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 29/12/2017, bị TAND quận Cẩm Lệ xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 82/2017/HSST. Chấp hành xong ngày 14/4/2022.

Nhân thân:

  • - Ngày 05/5/2005, bị TAND quận Thanh Khê xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích" theo Bản án số: 34/2005/HSST. Chấp hành xong ngày 15/8/2006.
  • - Ngày 22/9/2010, bị TAND quận Thanh Khê xử phạt 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số: 77/2010/HSST. Chấp hành xong ngày 12/4/2013.
  • - Ngày 27/8/2024, Phòng CSĐTTP về ma túy Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Bùi Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/8/2024; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị Thiện H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ F, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ10 phút, ngày 21/8/2024, tại khu vực ngã tư đường T - N thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Đ phối hợp với Công an phường H, quận L tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng, tang vật thu giữ của T gồm có:

  • - 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong đánh ký hiệu B1;
  • - 01 xe mô tô hiệu Exciter biển kiểm soát 43D1-51712 và 01 giấy chứng nhận đăng ký của xe mô tô này;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh gắn thẻ sim số 0708125460;
  • - 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Bùi Văn T;
  • - 01 thẻ ngân hàng S số 4221510126551236, 01 thẻ ngân hàng Đ1 số 9704061452336698 và 01 Giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Bùi Văn T;
  • - 08 vỏ bao nylon rỗng và số tiền 350.000 đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Đến 19 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại Phòng số 102 Nhà nghỉ B1, số B Đ, phường H, quận C, TP . thu giữ:

  • - 01 Căn cước công dân mang tên Bùi Văn T;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh không gắn thẻ sim;
  • - 01 vỏ chai nhựa, 01 ông hút nhựa, 01 nắp nhựa và 01 nó thủy tỉnh.

Đến 19 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại K N, phường H, quận L, TP . không phát hiện thu giữ gì thêm.

Theo Bản kết luận giám định số: 668/KL-KTHS ngày 28/8/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận: Mẫu tỉnh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu: B1 là 9,892 gam.

Căn cứ vào lời khai của Bùi Văn T, những người liên quan và các vật chứng thu giữ xác định:

Vào ngày 19/8/2024, Bùi Văn T có nhu cầu sử dụng ma túy loại hàng đá nên đã đến khu vực B thành phố Đà Nẵng gặp một người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ mua giúp 10 gam ma túy đá với giá 6.500.000 đồng. Sau đó, Đ nhận tiền của T và đi đâu một lúc rồi quay lại đưa cho T một gói ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T mang về phòng 102 nhà nghỉ B1 ở số B Đ, phường H, quận C và sử dụng một ít. Đến khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 21/9/2024, T cất giấu gói ma túy này trong người và điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển kiểm soát 43D1-51712 đi đến khu vực tại ngã tư đường T - N thuộc phường H, quận L thì bị lực lượng Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang như nói trên.

Quá trình điều tra, Bùi Văn T khai nhận đây là lần đầu tiên T mua ma túy đá của Đ. T không biết rõ về nhân thân, lai lịch và không liên lạc qua điện thoại với Đ. Qua kiểm tra chất ma túy trong cơ thể xác định T dương tính với chất ma túy.

Trước đó, ngày 29/12/2017, Bùi Văn T đã bị TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo Bản án số: 82/2017/HSST. Bị cáo T đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.

Quá trình điều tra, T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: Điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
  • * Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong đựng toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám dịnh; 01 vỏ chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 08 vỏ bao nylon rỗng;
  • + Trả lại cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Bùi Văn T2; 01 thẻ Ngân hàng S số 4221510126551236; 01 thẻ Ngân hàng Đ1; 01 Giấy chứng minh nhân dân và 01 Căn cước công dân đều mang tên Bùi Văn T; trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh gắn thẻ sim số 0708125460; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh không gắn thẻ sim;
  • + Trả lại cho bị cáo T số tiền 350.000 đồng, tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 21/8/2024, tại khu vực ngã tư đường T - N thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Bùi Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 9,892 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Bản thân bị cáo Bùi Văn T đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên biết rất rõ các tác hại mà ma túy mang lại, biết rõ ma túy là loại độc dược do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển...trái phép các chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào thế nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây nên những hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và tệ nạn xã hội, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử phạt bị cáo T mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Cần phải cách ly bị cáo một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về nhân thân:

Bị cáo T có nhân thân xấu, vào năm 2005 và 2010 bị TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt về tội cố ý gây thương tích.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:

  • + Đối với 01 phong bì đã được niêm phong đựng toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định; 01 vỏ chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 08 vỏ bao nylon rỗng. Xét đây là những tang vật liên quan hành vi phạm tội của bị cáo và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Bùi Văn T2; 01 thẻ Ngân hàng S số 4221510126551236; 01 thẻ Ngân hàng Đ1; 01 Giấy chứng minh nhân dân và 01 Căn cước công dân đều mang tên Bùi Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh gắn thẻ sim số 0708125460; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh không gắn thẻ sim và số tiền 350.000 đồng. Xét đây là những giấy tờ tùy thân cũng như tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T, tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ số tiền 350.000 đồng này để đảm bảo thi hành án.

[8] Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:

  • - Đối với xe mô tô hiệu Exciter biển kiểm soát 43D1-51712, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của bà Bùi Thị Thiện H1- chị ruột của bị cáo Bùi Văn T. Bà H1 cho Bùi Văn T mượn xe mô tô này để sử dụng nhưng không biết T sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, ngày 20/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nói trên cho bà Bùi Thị Thiện H1 là đúng pháp luật.
  • - Đối với đối tượng tên Đ đã bán ma túy cho bị cáo, đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.

[9].Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Áp dụng: Điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 07(B) năm tù.

    Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/8/2024.

  2. * Về hình phạt bổ sung:

    Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn T 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong đựng toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám dịnh; 01 vỏ chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 08 vỏ bao nylon rỗng;
    • + Trả lại cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Bùi Văn T2; 01 thẻ Ngân hàng S số 4221510126551236; 01 thẻ Ngân hàng Đ1; 01 Giấy chứng minh nhân dân và 01 Căn cước công dân đều mang tên Bùi Văn T; trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh gắn thẻ sim số 0708125460; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh không gắn thẻ sim;
    • + Trả lại cho bị cáo T số tiền 350.000 đồng, tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

    (Toàn bộ vật chứng nêu trên, Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/02/2025).

  4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS Q. Liên Chiểu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Q. Liên Chiểu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Đức Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ban án Tho-249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger