TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 25/02/2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị An
Ông Nguyễn Văn Đệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thuỳ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 23/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với:
* Bị cáo: Vũ Đình N, sinh năm 2001 tại Nam Định; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Vũ Đình T; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 05 anh em: Bị cáo là con thứ hai; D chỉ bản số 878 do Công an huyện Đ lập ngày 01/02/2024; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ: Từ ngày 20/11/2024 đến ngày 29/11/2024. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Bị hại: Anh Quàng Văn X, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Bản P, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, huyện B, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Đình N và anh Quàng Văn X thuê trọ cùng dãy tại khu trọ của ông Chử Văn H1 (sinh năm 1961; nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội).
Khoảng 01h30' ngày 19/11/2024, anh Quàng Văn X điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, đeo BKS: 26AE - 058.40 về phòng trọ để nghỉ ngơi, anh X dựng chiếc xe máy trước cửa khu trọ, khóa cổ xe rồi vào phòng ngủ. Khoảng 03h00' ngày 19/11/2024, N đi chơi về phát hiện chiếc xe máy Yamaha Exciter của anh Xuân D1 tại lối đi vào khu trọ, xe có khóa cổ nhưng không khóa càng, không có người trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên để bán và lấy tiền tiêu xài. N tiến lại gần chiếc xe, dùng chân phải đạp vào tay lái phía bên trái để bẻ khóa cổ rồi dắt xe ra ngoài khu trọ. Sau đó, N dắt chiếc xe đến 01 quán sửa chữa khóa xe của anh Tạ Quang V (Sinh năm 1982, nơi cư trú: Khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ) tại trước tòa nhà P, khu chung cư Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội), N thuê anh Vĩnh S ổ khóa xe của N do N mất chìa khóa với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh V bảo N mang xe đến tiệm sửa xe máy bên cạnh do anh Nguyễn Đức Đ (Sinh 1982, trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội) để tháo ổ khóa rồi anh Vĩnh S và đánh 01 chiếc chìa khóa xe mới cho N. Sau đó, N sử dụng tài khoản ngân hàng M 1007210016886 chuyển khoản 300.000 đồng đến tài khoản ngân hàng B 22010002328534 của anh V. N đăng thông tin giao bán chiếc xe trên trang mạng “Xe không giấy tờ miền bắc”. Có 01 tài khoản tên Facebook “Nguyễn Trường G”, sử dụng số thuê bao 0987980736 liên hệ hỏi mua. N và tài khoản “Nguyễn Trường G” hẹn gặp ở khu vực phố H, Ô phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội để giao nhận tiền và xe máy. N đến nơi hẹn và gặp anh Nguyễn Trường G (Sinh năm 2001; trú tại: Thôn C, xã Y, huyện B, thành phố Hà Nội) là chủ tài khoản “Nguyễn Trường G”. N cho anh G biết chiếc xe Nam mua từ năm 2023, hiện tại đang bị mất giấy tờ và G thỏa thuận mua chiếc xe trên với giá 6.500.000 đồng (Sáu triệu, năm trăm nghìn đồng). Sau đó, G sử dụng tài khoản ngân hàng A chuyển 6.500.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng M 1007210016886 của N. Nhận tiền xong, N bỏ về quê lẩn trốn.
Đồ vật, tài liệu tạm giữ:
- Của Vũ Đình N: 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu xanh, bên trong có 01 sim số thuê bao: 0327798663, số IMEI: 353956100654124.
- Của anh Nguyễn Trường G: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn: đen, biển kiểm soát: 26 AE - 05840, số khung 199052, số máy: 968394, xe máy sản xuất năm 2019, đã qua sử dụng.
- Của anh Nguyễn Đức Đ: 01 USB màu đen, lưu dữ liệu camera liên quan đến hành vi của Vũ Đình N.
Ngày 25/11/2024, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng huyện hình sự huyện Đ ra kết luận định giá đối với tài sản bị trộm cắp là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn: đen, biển kiểm soát: 26AE - 05840, số khung 199052, số máy: 968394, đã qua sử dụng trị giá 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đình N khai nhận hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.
Đối với anh Nguyễn Đức Đ, anh Tạ Quang V và anh Nguyễn Trường G khi sửa khóa xe máy cho N và mua lại xe của N các anh đều không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ không đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 26 AE - 05840 là tài sản hợp pháp của anh Quàng Văn X; đối với 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu xanh là tài sản hợp pháp của Vũ Đình N nên ngày 15/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho anh Quàng Văn X và Vũ Đình N.
Đối với 01 USB màu đen là vật chứng của vụ án nên chuyển kèm hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.
Về phần dân sự: Anh Quàng Văn X đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự. Anh Nguyễn Trường G yêu cầu Vũ Đình N trả lại số tiền 6.500.000 đồng, tiền mua xe và số tiền 600.000 đồng, chi phí sửa chữa xe.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 06/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố Vũ Đình N về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xác định đã bồi thường cho anh Nguyễn Trường G số tiền 7.100.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Trường G xác định đã được bị cáo bồi thường số tiền 7.100.000 đồng là tiền mua xe và sửa xe. Nay, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Đình N từ 10 đến 14 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 20 đến 28 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Về dân sự: Các bên đã tự thoả thuận và giải quyết xong nên không phải xem xét, giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
1.1. Về sự vắng mặt của đại diện bị hại anh Quàng Văn X tại phiên tòa: Trong quá trình điều tra, anh Quàng Văn X đã có lời khai đầy đủ và có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Quàng Văn X theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.2. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của C tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 03 giờ ngày 19/11/2024, tại thôn H, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Vũ Đình N đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 26AE-058.40 của anh Quàng Văn X, trị giá tài sản chiếm đoạt 19.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành Tộitrộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...”
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố Vũ Đình N về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần phải xử lý hình sự và cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra là tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu và trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được bồi thường toàn bộ số tiền yêu cầu và các bên không có yêu cầu gì thêm. Như vậy, phần dân sự các bên đã tự thoả thuận, giải quyết xong nên Toà án không phải xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đình N phạm Tộitrộm cắp tài sản.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
1. Về hình phạt:
Xử phạt: Vũ Đình N 10 (Mười) tháng tù về Tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ Đình N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã được hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí sơ thẩm:
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự để sung ngân sách Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 03 giờ ngày 19/11/2024, tại thôn Hội Phụ, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Vũ Đình Nam đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 26AE-058.40 của anh Quàng Văn Xuân, trị giá tài sản chiếm đoạt 19.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
