Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/02/2025.

V/v: Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa;

Ông Lê Như Hạnh.

– Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

– Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn N - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • – Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc H, sinh năm 1994.
  • Nơi thường trú: Số nhà G, ngõ A, tổ dân phố G, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
  • – Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1991.
  • Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Tổ B, khu phố C, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
  • Địa chỉ hiện nay: Campuchia.

Tại phiên tòa vắng mặt chị H và anh T ( chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Ngọc H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2016. Sau khi kết hôn chị chuyển về chung sống cùng gia đình anh T tại tổ B, khu phố C, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Ban đầu cuộc sống vợ chồng chị khá

2

hạnh phúc. Mặc dù có những mâu thuẫn, bất đồng nhưng vẫn cố gắng giải quyết, vun vén cho gia đình. Tuy nhiên dần dần mâu thuẫn ngày càng nhiều, trở nên thường xuyên hơn, khiến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Đặc biệt là từ cuối năm 2017, chị đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, sau đó một thời gian anh T cũng sang Campuchia làm việc, vốn dĩ hai vợ chồng đã có những bất đồng quan điểm sống, không hoà hợp về tính cách, anh T lại có những mỗi quan hệ ngoài luồng khác nên vợ chồng càng mâu thuẫn nhiều hơn, không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau. Anh chị đã chính thức ly thân từ khoảng tháng 02 năm 2019. Đã rất nhiều lần chị H chủ động trao đổi với anh T để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị cũng đã nhiều lần đi đến thống nhất về việc ly hôn nhưng do cả hai đều đang làm việc tại nước ngoài nên không thể về nước giải quyết được. Hiện nay chị H đã về Việt Nam và bản thân chị nhận thấy tình trạng hôn nhân của chị và anh T đã rất trầm trọng, anh chị sống ly thân nhau đã lâu, giữa anh chị không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn T.

– Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung

– Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H trình bày, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh Lê Văn T tại Campuchia nên không thể cung cấp cho Toà án. Chị cho biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Lưu Thị L, trú tại: tổ B, khu phố C, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, đề nghị Toà án thu thập thêm thông tin từ mẹ đẻ anh T.

Tại biên bản làm việc ngày 03/01/2025 của Toà án nhân nhân tỉnh Thanh Hoá, bà Lưu Thị L trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Lê Văn T và là mẹ chồng của chị Phạm Ngọc H. Anh T và chị H kết hôn với nhau năm 2016. Sau khi kết hôn thì anh T và chị H chung sống với vợ chồng bà. Đến năm 2022 thì anh T sang Campuchia làm việc. Sau khi anh T sang Campuchia thì chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Bà không biết giữa chị H và anh T có mâu thuẫn gì không. Nay chị H làm đơn khởi kiện ly hôn anh T thì bà không có ý kiến gì, để hai anh chị tự giải quyết. Về con chung thì anh T và chị H không có con chung. Anh T và chị H cũng không có tài sản, công nợ gì chung.

Bà L không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở Campuchia. Anh T cũng hay gọi điện thoại về cho vợ chồng bà để hỏi thăm sức khoẻ. Bà cam kết sẽ nhận các văn bản tố tụng của Toà án và thông báo cho anh T biết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định

3

của pháp luật. Nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng

[1. 1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Lê Thị L1 khởi kiện vụ án về việc “Ly hôn”; bị đơn là anh Lê Văn T trước khi xuất cảnh có nơi thường trú tại: tổ B, khu phố C, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, hiện nay anh T đang sinh sống tại Campuchia. Vì vậy Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Công văn số 5107/XNC(T3) ngày 11/12/2024 của Phòng Q, Công an tỉnh T cung cấp: Ngày 17/11/2022, anh T sử dụng hộ chiếu P00835738 xuất cảnh qua sân bay N, đến nay chưa thấy thông tin nhập cảnh về nước. Phòng Q không lưu trữ thông tin, dữ liệu về địa chỉ, quốc gia và vùng lãnh thổ mà công dân xuất cảnh đến.

[1. 2] Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Chị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh T trước khi xuất cảnh ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ nơi anh T đang sinh sống hiện nay tại Campuchia. Toà án đã yêu cầu nhưng bà Lưu Thị L là mẹ đẻ của anh Lê Văn T trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở Campuchia. Anh T thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể hiện nay của anh ở nước ngoài. Toà án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng cho anh T và giao các văn bản tố tụng cho bà L nhận thay cho anh T, bà L cam kết sẽ thống báo lại cho anh T biết nội dung các văn bản tố tụng của Toà án. Vì vậy Toà án giải quyết vụ án theo hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

[1. 3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản

4

tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh T.

[2] Về nội dung vụ án:

[2. 1] Về hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Do hoàn cảnh kinh tế nên cuối năm 2017, chị đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, sau đó một thời gian anh T cũng sang Campuchia làm việc nên vợ chồng càng mâu thuẫn nhiều hơn, không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau. Anh chị đã chính thức ly thân từ khoảng tháng 02 năm 2019. Đã rất nhiều lần chị H chủ động trao đổi với anh T để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Như vậy có thể khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị được ly hôn anh T.

[2.2]. Về con chung: Chị H và anh T không có con chung nên chị H không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

5

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Ngọc H được ly hôn anh Lê Văn T.
  2. Về con chung: Chị H và anh T không có con chung nên chị H không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.
  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0000766 ngày 19/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá, chị H đã nộp đủ án phí.

Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND P Đông Sơn, TX Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá (ĐK 2016);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thu Phương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Hiệp khởi kiện ly hôn Lê Văn Thanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger