TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/02/2025
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phước và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/10/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Diễm M, sinh năm 1998.
- Bị đơn: anh Trần Trịnh Thành N, sinh năm 1996
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn chị M có mặt. Bị đơn anh N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Trần Thị Diễm M bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, chị với anh Trần Trịnh Thành N quyết định chung sống với nhau vào năm 2018, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V. thời gian đầu sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, cùng nhau lo làm ăn để nuôi con. Năm 2020 do khó khăn về kinh tế nên vợ chồng quyết định lên Bình Dương làm công nhân. Một năm đầu cuộc sống bình thường, tuy nhiên sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh N không chịu làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu say xỉn về nhà chửi bới đánh đập chị nhiều lần. Ngoài ra anh N còn đánh bài qua mạng, chơi số đề gây ra nhiều nợ, làm được bao nhiêu tiền đều dùng vào việc trả nợ. Chị đã cố gắng chịu đựng và tiếp tục sống. Tháng 8/2024 do anh N không thay đổi nên chị quyết định dọn ra sống riêng. Vào tháng 10/2024, trong một lần nhậu xỉn anh N qua nơi chị ở và vợ chồng có cãi nhau qua lại, anh N đã đánh chị nứt xương sống mũi buộc chị phải nghỉ làm để điều trị một tuần. Nhận thấy đã hết tình cảm, không thể quay lại sống chung với anh N được nữa nên chị M yêu cầu như sau:
- + Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Diễm M xin được ly hôn với anh Trần Trịnh Thành N.
- + Về quan hệ con chung: có một con chung tên Trần Minh T sinh ngày 29/7/2018 hiện đang sống với chị M. Sau ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng.
- + Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn anh Trần Trịnh Thành N: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh N nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh N vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị M.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
- + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
- + Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 236/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử: chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn.
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Về hôn nhân: bà Trần Thị Diễm M được ly hôn với ông Trần Trịnh Thành N.
Về con chung: giao con chung tên Trần Minh T sinh ngày 29/7/201 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Trần Trịnh Thành N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp S, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
[1.2] Bị đơn anh Trần Trịnh Thành N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chị Trần Thị Diễm M và anh Trần Trịnh Thành N chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 21/02/2018. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Diễm M, thấy: Trong quá trình sống chung giữa chị M và anh N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh N không chịu làm ăn, thường xuyên ăn nhậu và mỗi lần say xỉn là đánh đập vợ. Ngoài ra anh N còn chơi đánh bài qua mạng và đánh số đề nên làm được bao nhiêu tiền đều dùng vào việc trả nợ. Chị M đã nhiều lần khuyên nhủ và cho anh N cơ hội để thay đổi nhưng không có kết quả từ đó dẫn đến không còn tình cảm với anh N nên chị M kiên quyết xin được ly hôn. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh N vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị M để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh N không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.
[2.3] Về quan hệ con chung, thấy: qua chứng cứ chị M cung cấp thì chị M và anh N có một con chung tên Trần Minh T sinh ngày 29/7/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị M là người trực tiếp nuôi con. Trong quá trình giải quyết, anh N cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến tranh chấp về phần con chung. Xét thấy, có đủ căn cứ để giao con chung Mcho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục theo. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
[3] Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là căn cứ.
[4] Về án phí: chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 khoản 2 Điều 227 và khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm M.
- - Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Diễm M được ly hôn với anh Trần Trịnh Thành N.
- - Về quan hệ con chung:
- - Về tài sản chungvà nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Giao con chung Trần Minh T sinh ngày 29/7/2018 cho chị Trần Thị Diễm M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh Trần Trịnh Thành N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Trần Thị Diễm M và anh Trần Trịnh Thành N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
2. Về án phí: chị Trần Thị Diễm M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021357 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Trần Thị Diễm M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Trần Trịnh Thành N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Diễm M xin ly hôn anh Trần Trịnh Thành N
