Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 18-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc và ông Lê Văn Ánh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Trần Quốc D – sinh năm 1985, tại Kiên Giang

    Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn P – sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Ngọc H – sinh năm 1962; Có vợ là Vũ Thị Ngọc T – sinh năm 1984; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/8/2010, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản và ngày 04/01/2018, Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay (Có mặt)

  2. Nguyễn Văn T1 (Tên gọi khác: T1 ngọng) – sinh năm 1991, tại Cà Mau

    Nơi cư trú: Ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T2 – sinh năm 1973; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 25/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Văn T1 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến nay (Có mặt)

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1974 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc D và Nguyễn Văn T1 có quan hệ là bạn bè quen biết ngoài xã hội, cả hai đều nghiện ma túy và không có việc làm ổn định.

Khoảng 20 giờ ngày 06/7/2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân và để có tiền mua ma túy sử dụng nên Nguyễn Văn T1 điều khiển xe đạp đến phòng trọ của Trần Quốc D tại khu I, thị trấn T, rủ D đi trộm cắp tài sản thì D đồng ý. Trước khi đi trộm cắp, T1 và D chuẩn bị sẵn 02 kìm cắt cây, 02 kìm thường, 01 tua vít, 01 bao tải màu trắng, 02 ba lô bằng vải và trang bị một bộ kích điện sử dụng để chích cá nhằm ngụy trang để người dân khỏi phát hiện. Sau đó, T1 và D mỗi người điều khiển một chiếc xe đạp đến khu vực giáp ranh giữa xã T và xã P tìm kiếm nhà ai sơ hở để thực hiện việc trộm cắp tài sản. Sau khi tìm kiếm thì T1 và D phát hiện nhà của ông Nguyễn Văn H1 tại ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai đóng cửa không có ai ở nhà nên T1 bảo D ngồi ngoài cảnh giới để T1 vào phá khóa cửa. Sau khi phá được cửa, T1 nói D vào trong nhà rồi cả hai bắt đầu lục tìm tài sản để trộm cắp gồm 01 máy bơm hiệu Dongyin 1.5HP, 01 mô tơ cá sấu 1HP, 01 ống nhòm hiệu MaiFeng (80x80), 01 điện thoại hiệu bàn phím nhãn hiệu Mater màu đen, 01 điện thoại hiệu bàn phím nhãn hiệu Vietel màu đen, 01 máy xay sinh tố Khalick KL303, 01 bộ dụng cụ sửa chữa ô tô, 02 đèn pin đội đầu, 01 thùng mì Miliket (30 gói), 01 hộp bánh Danisa, 01 túi mì Omachi 400g, 01 bịch đường loại 01kg, 01 hộp bánh đậu xanh, 01 bịch cà phê Wake up S1 (24 gói), 01 bịch bột giặt Aba loại 770g, 01 bịch hạt nêm Mezan loại 01kg, T1 và D bỏ tất cả tài sản trộm cắp được vào trong bao tải màu trắng mang về phòng trọ cất giấu.

Đến khoảng 02 giờ ngày 07/7/2024, khi T1 và D đang chở bao tải chứa tài sản vừa trộm cắp được đi trên đường hẻm thuộc ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã T tuần tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 máy bơm hiệu Dongyin 1.5HP, 01 mô tơ cá sấu 1HP, 01 ống nhòm hiệu MaiFeng (80x80), 01 điện thoại hiệu bàn phím nhãn hiệu Mater màu đen, 01 điện thoại hiệu bàn phím nhãn hiệu Vietel màu đen, 01 máy xay sinh tố Khalick KL303, 01 bộ dụng cụ sửa chữa ô tô, 02 đèn pin đội đầu, 01 thùng mì Miliket (30 gói), 01 hộp bánh Danisa, 01 túi mì Omachi 400g, 01 bịch đường loại 01kg, 01 hộp bánh đậu xanh, 01 bịch cà phê Wake up S1 (24 gói), 01 bịch bột giặt Aba loại 770g, 01 bịch hạt nêm Mezan loại 01kg.
  • - 02 xe đạp màu trắng, 01 bộ kích điện, 02 kìm cắt cây, 02 kìm thường, 01 tua vít, 01 bao tải màu trắng, 02 ba lô bằng vải, 01 điện thoại di động hiệu Mobell loại bàn phím.

Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐTS ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã xác định tổng giá trị tài sản do Nguyễn Văn T1, Trần Quốc D chiếm đoạt là 3.575.000 đồng.

Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, Trần Quốc D và Nguyễn Văn T1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 15/CT-VKSTP-ĐN ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố Trần Quốc D và Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quốc D mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại H1 đã nhận lại tài sản, ngoài ra không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị xem xét. Đề nghị tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thấy hành vi là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

    Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Về tội danh:

    Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

    Buổi tối ngày 06/7/2024 tại ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Quốc D và Nguyễn Văn T1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn H1 gồm 01 máy bơm hiệu Dongyin 1.5HP, 01 mô tơ cá sấu 1HP, 01 ống nhòm hiệu MaiFeng (80x80), 01 điện thoại hiệu bàn phím nhãn hiệu Mater màu đen, 01 điện thoại hiệu bàn phím nhãn hiệu Vietel màu đen, 01 máy xay sinh tố Khalick KL303, 01 bộ dụng cụ sửa chữa ô tô, 02 đèn pin đội đầu, 01 thùng mì Miliket (30 gói), 01 hộp bánh Danisa, 01 túi mì Omachi 400g, 01 bịch đường loại 01kg, 01 hộp bánh đậu xanh, 01 bịch cà phê Wake up S1 (24 gói), 01 bịch bột giặt Aba loại 770g, 01 bịch hạt nêm Mezan loại 01kg. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.575.000 đồng.

    Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. [3] Về tình tiết tăng nặng, nhân thân:

    Bị cáo T1 tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo D có nhân thân xấu.

  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ:

    Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  5. [5] Căn cứ quyết định hình phạt:

    Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình. Vì muốn có tiền để sử dụng tiêu xài cá nhân và sử dụng ma túy nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.

    Bản thân bị cáo D đã từng bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn không thay đổi, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ, ý thức chấp hành pháp luật kém.

    Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của từng người đồng phạm nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình như sau: Bị cáo T1 tham gia với vai trò người rủ rê khởi xướng, các bị cáo cùng chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội và thực hành nhưng bị cáo T1 trực tiếp vào lấy tài sản, bị cáo D chỉ đứng ngoài canh chừng. Như vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo T1 là cao hơn bị cáo D.

    Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

  6. [6] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  7. [7] Về biện pháp tư pháp:

    Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm; nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại tài sản bị cáo trộm cắp là phù hợp với quy định của pháp luật; 01 điện thoại di động hiệu Mobell loại bàn phím xác định không liên quan đến vụ án, đã trao trả cho bị cáo T1 là phù hợp; nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 02 xe đạp màu trắng, 01 bộ kích điện, 02 kìm cắt cây, 02 kìm thường, 01 tua vít, 01 bao tải màu trắng, 02 ba lô bằng vải, là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.

  8. [8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  9. [9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên mức án của bị cáo T1 còn chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 46, Điều 47; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc D và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Quốc D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/7/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/7/2024.
  2. 2. Các biện pháp tư pháp:

    Tịch thu tiêu hủy 02 xe đạp màu trắng, 01 bộ kích điện, 02 kìm cắt cây, 02 kìm, 01 tua vít, 01 bao tải màu trắng, 02 ba lô bằng vải. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).

  3. 3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. 4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Trần Quốc D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/7/2024. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/7/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger