TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 14-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Nghĩa
2. Ông Hồ Phi Công
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2021/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 02/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QÐST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1964, tại Thành phố Hồ Chí Minh; ĐKTT: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/11; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá C ( đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị Thu L; Chồng: Võ Thành T sinh năm 1960 ( đã chết), có 02 con, lớn nhất sinh năm 1984 và nhỏ nhất sinh năm 1988.
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Ngày 26/3/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù giam về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 27/2007/HSST.
Ngày 22/9/2021, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”
Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1940, vắng mặt
Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai
Người Làm chứng: Ông Nguyễn Bá L1 sinh năm 1971, vắng mặt.
Địa chỉ: khu phố C, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Thu L là người đang thuê phòng trọ của bà Trần Thị H. Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/7/2021, L ngồi chơi với bà H tại gian bán hàng tạp hóa của bà H. Khi bà H đứng lên đi vào trong nhà tắm thì làm rơi 01 (một) túi vải màu tím, bên trong đựng tiền và 02 (hai) nhẫn vàng 24K, trọng lượng 03 chỉ trên nền nhà gần vị trí L đang ngồi. Nhìn thấy bà H làm rơi tài sản, L nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã lén lút nhặt túi vải trên cất giấu vào trong người rồi nhanh chóng đi về phòng trọ của L. Sau khi về đến phòng trọ, L mở túi vải ra kiểm tra thì thấy có số tiền 5.000.000 đồng và 02 (hai) nhẫn vàng 24K, trọng lượng 03 chỉ. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, L đến nhà em ruột là ông Nguyễn Bá L1, để nhờ ông L1 cất giữ số tiền 5.000.000 đồng và 02 (hai) nhẫn vàng do L trộm cắp của bà H. Ông L1 không biết nguồn gốc tài sản do L trộm cắp mà có nên đã đồng ý cất giữ.
Quá trình điều tra, bà Trần Thị H khai báo ngoài số tài sản bị Nguyễn Thị Thu L khai nhận đã chiếm đoạt nêu trên, bà H còn bị L chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng và 01 (một) chỉ vàng loại 24K, tuổi vàng 9999.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐG ngày 31/8/2021 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện X, kết luận: 02 (hai) nhẫn vàng có trọng lượng 03 (ba) chỉ, loại vàng 24K, tuổi vàng 9999, thời điểm định giá ngày 16/7/2021 có giá trị là 15.630.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng)
Vật chứng vụ án: 02 (hai) nhẫn vàng có trọng lượng 03 (ba) chỉ, loại vàng 24K, tuổi vàng 9999 do ông Nguyễn Bá L1 tự nguyện giao nộp; Số tiền 5.000.000 đồng do ông Nguyễn Bá L1 tự nguyện giao nộp.
Xử lý vật chứng: Đối với 02 (hai) nhẫn vàng có trọng lượng 03 (ba) chỉ, loại vàng 24K, tuổi vàng 9999 và số tiền 5.000.000 đồng do ông Nguyễn Bá L1 tự nguyện giao nộp. Quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Trần Thị H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại các tài sản trên cho bà H.
Trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị H là bị hại tiếp tục yêu cầu Nguyễn Thị Thu L bồi thường 01 (một) nhẫn vàng có trọng lượng 01 (một) chỉ, loại vàng 24K, tuổi vàng 9999 và số tiền 15.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 181/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu L về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng .
Về tình tiết tăng nặng: không
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu L từ 8 đến 10 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu L nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo cũng như không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng trong vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án:
Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/7/2021, tại nhà bà Trần Thị H, thuộc ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Thị Thu L đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) túi vải, bên trong có số tiền 5.000.000 đồng và 02 (hai) nhẫn vàng 24K, trọng lượng 03 chỉ của bà Trần Thị H. Giá trị tài sản của bà Trần Thị H bị Nguyễn Thị Thu L chiếm đoạt là 20.630.000 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
Bị cáo đã có hành vi lợi dụng lúc bị hại đánh rơi túi vải, bị hại không biết nên bị cáo đã lén lút lấy trộm túi vải trong đó có tài sản là vàng, tiền của bị hại mang về nhà cất giấu, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền tài sản của người khác. Như vậy, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản của người khác. Tuy nhiên, bị cáo sau khi phạm tội đã bị bệnh hiểm nghèo theo kết luận số 08/2022/GDYK – KNLDD ngày 21/9/2022 của Hội đồng giám định y khoa sở y tế tỉnh Đ: yếu liệt ½ người trái mức độ nhẹ - trung bình – rối loại ngôn ngữ mức độ nhẹ do di chứng xuất huyến não nhân bèo, bao ngoài hai bên; bệnh tăng huyết áp giao đoạn I đang điều trị nên căn cứ vào kết luận trên Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã tạm đình chỉ vụ án số 01/2022/HSST-QĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022. Đến ngày 11/10/2024, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã ban hành Quyết định số 101/2024/QĐ-TA trưng cầu giám định tại Giám định y khoa Đồng Nai.
Theo kêt luận số 18/2024/GDDYK-YC ngày 27/11/2024 của Hội đồng giám định y khoa – Sở y tế tỉnh Đ kết luận: tiền sử tai biến mạch máu não, tăng huyết áp được xác định mắc bệnh theo kết quả khám. Giám định hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể( nếu có) là 76% và sau khi có kết luận thì Tòa án đã ban hành Quyết định số 01/2025/HSST- QĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 phục hồi vụ án.
Xét thấy, bị cáo hiện nay đang bị bệnh theo kết luận của Giám định y khoa Đồng Nai, không tự lao động để nuôi sống bản thân được do bị bệnh nặng, hàng tháng phải hưởng trợ cấp xã hội tại địa phương, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo đang có nơi cư trú ổn định, mặc dù bị cáo có nhân thân nhưng lần phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên căn cứ Điều 1 Nghị Quyết 01/2022 ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý cũng đủ nghiêm để bị cáo có cơ hội tiếp tục uống thuốc chữa bệnh hàng tháng.
[2] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[3] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội là người khuyết tật nặng được hưởng trợ cấp hàng tháng tại địa phương, tài sản thu hồi trả lại cho bị hại nên bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ tại điểm p,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền 5.000.000 đồng và 02 chỉ vàng do bị cáo tự nguyện giao nộp. Tuy nhiên, theo lời khai của bị hại là bị hại mất thêm số tiền 15.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k và yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 15.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k đã mất.
Nhận thấy, bị cáo thừa nhận trong túi vải bị cáo nhặt được có số tiền 5.000.000 đồng và 2 chỉ vàng 24k đã giao nộp lại cho bị hại, bị cáo không thấy số tiền nào khác như lời khai của bị hại khai. Xét thấy, quá trình cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện X xác minh thu thập chứng cứ cũng như căn cứ vào lời khai của bị cáo thì không đủ cơ sở để xác định bị hại bị mất thêm số tiền 15.000.000 đồng và 01 chỉ vàng nên không có cơ sở xử lý để buộc bị cáo bồi thường thêm số tiền 15.000.000 đồng và 01 chỉ vàng.
[5] Nhận định của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định trên nên chấp nhận một phần phù hợp.
[6] Về án phí: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
Căn cứ điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 09 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thu L 01 ( Một) năm 03 ( Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 ( Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu L cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự quy định: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2.Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu L phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị T1 |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 1 năm 3 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
