Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Hoàng Hân.

Ông Vũ Xuân Chính.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Đ, sinh ngày 22/4/1993 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp M, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn L và bà Từ Út T; vợ, con: chưa có; nhân thân: Ngày 01/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); tiền án: 01 lần vào ngày 27/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành án xong ngày 11/8/2024, chưa xóa án tích), tiền sự: Không.

Tạm giữ ngày 04/9/2024; tạm giam ngày 12/9/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: Khóm E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 04/9/2024 Võ Đ điều khiển xe Vision màu xanh đen, biển số 69AK – 037.14 đi lên thành phố C chơi. Do không có tiền để tiêu xài nên trên đường đi Ý nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản người khác để lấy tiền tiêu xài. Đến đoạn cầu K thuộc thị trấn N, Ý vòng đường dưới cầu K đi theo đường lộ xi măng đến nhà bà Phạm Thị N ở khóm E, thị trấn N thấy không ai trông coi nên Ý đậu xe ngoài lộ xi măng, cách nhà bà N khoảng 5 mét, Ý dùng hai tay kéo bung hai bên cửa sắt nhà trước để chui vào, thấy cửa phòng đầu khóa, phòng phía sau không khóa nên Ý vào lục lọi thấy máy Laptop nhưng Ý không lấy. Từ trong phòng này Ý nhìn lên trên thấy có tấm xốp ngăn phòng nên Ý leo lên dùng tay đẩy tấm xốp rơi xuống rồi leo qua phòng đầu lục tìm tài sản. Ý kéo ngăn tủ trang điểm thấy 03 đôi bông tai và một mặt dây chuyền nên lấy hết bỏ vào bên phải túi quần đang mặc rồi mở cửa phòng đi ra và kéo cửa sắt nhà trước để bỏ trốn thì bị bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm 01 cặp bông tai có dạng hình quả chuông, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình trái châu, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình chiếc lá, bằng kim loại màu trắng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 mặt dây chuyền có dạng hình 02 chữ C, bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng; 02 chiếc dép bằng nhựa, màu đen, quai hậu có chữ SHDTR đã qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô hiệu Vision màu xanh đen biển số kiểm soát 69AK – 037.14.

Tại Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự số 06/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 cặp bông tai có dạng hình quả chuông, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 57.332 đồng; 01 cặp bông tai có dạng hình trái châu, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị 58.666 đồng; 01 cặp bông tai có dạng hình chiếc lá, bằng kim loại màu trắng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 81.332 đồng; 01 mặt dây chuyền có dạng hình 02 chữ C, bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị 122.666 đồng. Tổng giá trị tài sản là 319.996 đồng.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 30/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn đã truy tố đối với bị cáo Võ Đồng Ý về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

2

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Ý phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị xử phạt bị cáo Ý từ 09 tháng đến 15 tháng tù; về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; đề nghị trả lại xe cho bị cáo do mẹ bị cáo mua cho bị cáo vào ngày 28/8/2024, đến ngày 04/9/2024 bị cáo điều khiển xe gia đình không biết; trả lại tài sản cho bị hại gồm: 01 cặp bông tai có dạng hình quả chuông, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình trái châu, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình chiếc lá, bằng kim loại màu trắng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 mặt dây chuyền có dạng hình 02 chữ C, bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng, tiêu hủy 02 chiếc dép bằng nhựa, màu đen, quai hậu có chữ SHDTR của bị cáo, đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt, xin nhận lại xe máy giao cho đại diện là mẹ ruột nhận là bà Từ Út T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Vào lúc 12 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 9 năm 2024, Võ Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà N, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt theo định giá là 319.996 đồng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội này, cụ thể tại Bản án số 150/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà bị cáo còn vi phạm.

3

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Ý thừa nhận một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại.

Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo bất chấp, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi đã gây ra. Do đó, hành vi của bị cáo Ý đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; người thân của bị cáo có ông N1 và ông N2 là người công với cách mạng; bị cáo bồi thường và khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để cân nhắc mức hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện N là có căn cứ với hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng:

- Trả lại cho bị hại: 01 cặp bông tai có dạng hình quả chuông, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình trái châu, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình chiếc lá, bằng kim loại màu trắng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 mặt dây chuyền có dạng hình 02 chữ C, bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng;

- Tiêu hủy: 02 chiếc dép bằng nhựa, màu đen, quai hậu có chữ SHDTR đã

4

qua sử dụng, bị cáo không xin nhận lại và cũng không còn giá trị sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc xe mô tô hiệu Vision màu xanh đen biển số kiểm soát 69AK – 037.14, do hành vi trộm cắp nảy sinh khi bị cáo nhìn thấy nhà không ai trông coi chứ bị cáo không chuẩn bị phương tiện để trộm cắp từ trước. Mặt khác, nguồn tiền mua xe của mẹ bị cáo mua tặng cho bị cáo vào ngày 28/8/2024 dùng vào việc đưa đón các cháu đi học, đến ngày 04/9/2024 bị cáo trốn đi chơi điều khiển xe và phạm tội gia đình không biết nên Hội đồng xét xử xét thấy không tịch thu sung quỹ nhà nước mà trả lại cho bị cáo là phù hợp, đại diện cho bị cáo là mẹ ruột bà Từ Út T nhận lại khi án có hiệu lực pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 215, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

Tuyên bố: Bị cáo V Đồng Ý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo V Đồng Ý 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 04 tháng 9 năm 2024.

Xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị hại Phạm Thị N: 01 cặp bông tai có dạng hình quả chuông, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình trái châu, bằng kim loại màu vàng, bên trong có hột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 cặp bông tai có dạng hình chiếc lá, bằng kim loại màu trắng, bên trong có hột màu trắng đã qua sử dụng; 01 mặt dây chuyền có dạng hình 02 chữ C, bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo V Đồng Ý: 01 chiếc xe mô tô hiệu Vision màu xanh đen biển số kiểm soát 69AK – 03 7.14, số máy JK03E5564345, số khung RLHJK0344RZ129171, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy đứng tên Võ Đ, đại diện cho bị cáo là bà Từ Út T (mẹ ruột) nhận lại khi án có hiệu lực pháp luật.

- Tiêu hủy: 02 chiếc dép bằng nhựa, màu đen, quai hậu có chữ SHDTR đã qua sử dụng;

5

(Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024)

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo V Đồng Ý chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp;
  • - Tòa án tỉnh Cà Mau;
  • - Công an huyện Năm Căn;
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thùy Linh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger