|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 28/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Lập |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn An |
| Bà Đỗ Hà Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Mộng Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Bích P, sinh ngày 25/3/1995 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi thường trú: Thôn C, xã M, huyện Đ, Lâm Đồng; Nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: Thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ (Đã đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 21/11/2024 theo Quyết định số 48-QĐ/UBKTHU của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Đ1); con ông Nguyễn Đắc V, sinh năm 1972 và bà Lưu Thị N, sinh năm 1974; chồng Đỗ Văn H, sinh năm 1993, hiện làm việc tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; có 01 con sinh năm 2019. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/11/2024 cho đến nay tại: Thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Người bị hại: Ông K' Đôl, sinh năm 1968 (đã chết); nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông K᾽ Đôl:
1. Anh K' Điển, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Anh K' Duyển, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3. Chị Ka S, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện của người anh K' Duyển, chị Ka S: Anh K' Điển, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Theo Văn bản ủy quyền số 13 ngày 16/9/2024 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 56 phút ngày 19/8/2024, bị cáo Nguyễn Thị Bích P (bị cáo) điều khiển xe mô tô biển số 49M1-129.03 đến đoạn đường ngã ba đường liên xã P đi xã H thuộc thôn L, xã P, huyện Đ, trong khi đang chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm giao thông với xe mô tô biển số 49M6-4540 do ông K' Đôl điều khiển theo hướng đi từ thôn B, xã H đi xã P. Hậu quả: ông K' Đôl bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2 và sau đó được chuyển đến Bệnh viện C, thành phố Hồ Chí Minh nhưng do thương tích quá nặng nên đã chết vào ngày 20/8/2024. Về phía bị cáo sau tai nạn cũng bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ3, tỉnh Đồng Nai. Hai xe mô tô bị hư hỏng (các bút lục số 51, 52-53, 54-59).
Tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường giao nhau cùng cấp trên tuyến đường liên xã P đi xã H thuộc thôn L, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Mặt đường được trải bê tông nhựa nóng. Theo chiều đi từ xã P đi thôn B, xã H đường cong cua về phía bên phải, mặt đường được trải bê tông nhựa nóng, có vạch sơn vàng đứt quãng ở tim đường và cách mép đường bên phải theo chiều đi là 3,5m. Từ đoạn đường giao nhau cùng cấp trên tuyến đường liên xã P đi xã H theo chiều đi từ xã P đi thôn C, xã H thì tại khu vực đường giao nhau mặt đường được trải bê tông nhựa nóng, không có vạch phân chia phần đường. Phía trước hiện trường về hướng xã P tại hành lang an toàn giao thông đường bộ bên phải theo chiều đi từ xã P đi xã H có biển cảnh báo đường giao nhau cùng mức của các tuyến đường cùng cấp (W.205c) và biển cảnh báo chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên phải (W.201b). Trong quá trình khám nghiệm hiện trường xác định hướng khám nghiệm hiện trường theo hướng từ xã P đi xã H. Chọn mép đường bên trái theo hướng khám nghiệm hiện trường làm mép đường chuẩn, mọi số liệu sẽ được đo vào mép đường này.
Lấy trụ điện tại hành lang an toàn giao thông đường bộ phía trước hộ nhà ông K' Sáu ở bên trái hiện trường theo hướng khám nghiệm làm mốc cố định hiện trường.
- Vị trí số 1: Là vị trí xe mô tô BKS: 49M1-12903 để lại hiện trường sau tai nạn giao thông xe ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng về mép đường chuẩn, hình chiếu tâm trục bánh trước xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 2,1 m, cách trụ mốc cố định hiện trường là 11,9 m; Đuôi xe hướng ra phần đường dành cho các phương tiện lưu thông từ xã P đi Thôn B, xã H, hình chiếu tâm trục bánh sau xuống mặt đường cách mép đường chuẩn 3,1 m.
- Vị trí số 2: Là vị trí xe mô tô BKS: 49M6-4540 để lại hiện trường sau tai nạn giao thông xe ngã nghiêng bên phải đầu xe hướng về mép đường chuẩn, hình chiếu tâm trục bánh trước xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 0,95 m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô 49M1-12903 là 2,65 m. Đuôi xe có hướng ra phần đường dành cho các phương tiện lưu thông từ xã P đi Thôn B, xã H chếch về bên trái, hình chiếu tâm trục bánh sau xuống mặt đường cách mép đường chuẩn 2,1 m.
- Vị trí số 3: Là vị trí vết dịch màu đỏ (nghi là máu người) để lại hiện trường sau tai nạn giao thông không rõ hình thù, có kích thước 0,6m x 0,3 m; T vết dịch màu đỏ nghi là máu cách mép chuẩn 1,15 m và cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 49M6-4540 là 1,8 m.
Vị trí số 4: Là vị trí mũ lưỡi trai để lại hiện trường sau tai nạn giao thông, T mũ lưỡi trai cách mép đường chuẩn 1,6m, cách tâm vết dịch màu đỏ (nghi là máu người) là 0,3 m.
Vị trí số 5: Là vị trí mũ bảo hiểm để lại hiện trường sau tai nạn giao thông, T mũ bảo hiểm cách mép đường chuẩn là 2,25 m, cách hình chiếu tâm mũ lưỡi trai là 1,6 m.
Ngoài ra, sau khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Công an đã tiến hành trích xuất Camera an ninh tại khu vực xảy ra tai nạn nhằm phục vụ công tác điều tra, giải quyết vụ việc (các bút lục số 24-25; 26-27; 28-35; 113-115; 120).
* Ngày 05/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ cũng đã tiến hành khám nghiệm và ghi nhận các dấu vết trên hai phương tiện gồm xe mô tô BKS: 49M1-12903 và xe mô tô BKS: 49M6-4540 (các bút lục số 36-42; 43-49).
* Tại bản Kết luận giám định tử thi số 160/KLGĐTT-PC09 ngày 21/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L đối với K’Đôl, kết luận: 1. Các kết quả chính: Bầm tụ máu lan rộng dưới da đầu vùng đỉnh phải, bầm tím quanh hai mắt; 2. Kết luận: Nguyên nhân tử vong: Do chấn thương sọ não (các bút lục số 67, 68-69, 70, 71, 72-75, 76).
* Tại bản Kết luận giám định dấu vết cơ học số 1067/KL-KTHS ngày 08/10/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận:
+ Dấu vết va chạm: Dấu vết trượt xước (ký hiệu A) đầu bên trái thanh trục bánh trước xe mô tô biển số 49M1-129.03 phù hợp với Dấu vết trượt xước (Ký hiệu M) khu vực 1/3 dưới giảm xóc trước – trái xe mô tô biển số 49M6-4540.
+ Chiều hướng lưu thông: Xe mô tô biển số 49M1-129.03 đang lưu thông theo chiều đi từ xã P về hướng thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Xe mô tô biển số 49M6-4540 đang lưu thông theo chiều đi từ thôn B, xã H về hướng xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+ Tốc độ phương tiện: Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của xe mô tô biển số 49M1-129.03 và xe mô tô biển số 49M6-4540.
+ Vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49M1-129.03 với xe mô tô biển số 49M6-4540 thuộc khu vực giao nhau giữa phần đường dành cho các phương tiện lưu thông theo chiều từ thôn B, xã H về hướng xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và phần đường dành cho các phương tiện lưu thông theo chiều đi từ thôn C, xã H về hướng xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (các bút lục số 77, 78, 79-80).
* Ngày 02/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ cũng đã tiến hành trưng cầu giám định Trung tâm pháp y tỉnh L để giám định xác định tỉ lệ % thương tích của Nguyễn Thị Bích P sau tai nạn giao thông, tuy nhiên hiện nay chưa có kết quả trả lời (các bút lục số 81, 82-96).
* Về vật chứng, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô biển số 49M1-129.03, là xe mô tô của Nguyễn Thị Bích P. Quá trình điều tra, sau khi phục vụ công tác giám định đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp;
- 01 (một) xe mô tô biển số 49M6-4540 do ông K’Đôl điều khiển ngày 19/8/2024. Sau khi phục vụ công tác giám định, Cơ quan Công an đã trả lại cho người nhà của ông K’Đôl (các bút lục số 60-61, 62-63, 64, 65, 66, 133; 134, 135).
- Ngoài ra, còn tiếp tục tạm giữ 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Bích P do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 23/12/2015 (đính kèm hồ sơ vụ án).
* Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, các bên đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong vấn đề dân sự. Đại diện gia đình nạn nhân K’Đôl đã có Đơn bãi nại cho Nguyễn Thị Bích P (các bút lục số 100, 101).
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS-ĐH ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án. Tại phần tranh luận bị cáo không kêu oan, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng cân nhắc xử phạt bị cáo là hình phạt tiền để bị cáo có cơ hội tiếp tục công tác dạy học.
- Đại diện người bị hại xác định hành vi phạm tội của bị cáo đúng như cáo trạng đã nêu, xác định người bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông. Sau khi tại nạn xảy ra bị cáo và gia đình bị cáo đã thường xuyên đến thăm hỏi; cùng gia đình người bị hại tổ chức lo ma chay, cúng kính cho người đã chết. Đồng thời đã thỏa thuận được mức bồi thường, theo đó bị cáo đã bồi thường số tiền là 77.000.000 đồng (bảy mươi bảy triệu đồng) và đã bồi thường xong nên không còn có yêu cầu gì khác. Về trách nhiệm hình sự thì đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Không có ý kiến tranh luận gì với Viện kiểm sát.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hay ý kiến gì khác. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về tội danh và mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; theo điểm a khoản 1 Điều 260; áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 30.000.000 đồng (ba mươi) đến 50.000.000 đồng (năm mươi).
Về biện pháp tư pháp:
+ Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Giữa bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, gia đình người bị hại không tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô biển số 49M1-129.03, là xe mô tô của Nguyễn Thị Bích P. Quá trình điều tra, sau khi phục vụ công tác giám định đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp; 01 (một) xe mô tô biển số 49M6-4540 do ông K’Đôl điều khiển ngày 19/8/2024. Sau khi phục vụ công tác giám định, Cơ quan Công an đã trả lại cho người nhà của ông K’Đôl. Hiện chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Bích P do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 23/12/2015 là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí:
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về đề nghị, kiến nghị khác đối với Hội đồng xét xử:
Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về xác định tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường và phương tiện, sơ đồ hiện trường vụ án, kết luận giám định pháp y về tử thi, biên bản thu giữ đồ vật, phương tiện, tài sản và thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 11 giờ 56 phút ngày 19/8/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 49M1-129.03 đến đoạn đường ngã ba đường liên xã P đi xã H thuộc thôn L, xã P, huyện Đ, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, khi chuyển hướng qua đường tại nơi đường giao nhau cùng cấp không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm giao thông với xe mô tô biển số 49M6-4540 do ông K' Đôl điều khiển theo hướng đi từ thôn B, xã H đi xã P. Hậu quả: ông K' Đôl bị thương nặng đến ngày 20/8/2024 đã tử vong do chấn thương sọ não; bị cáo bị thương, hai phương tiện bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai truy tố bị cáo tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-ĐH ngày 15 tháng 11 năm 2024 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, an toàn giao thông, không những gây thiệt hại về tài sản, tính mạng của người tham gia giao thông khác mà còn gây hoang mang lo sợ cho những người tham gia giao thông, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần thiết phải ra một bản án nghiêm phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt trước khi có hành vi vi phạm pháp luật là Giáo viên đang giảng dạy tại trường Trung học cơ sở P1. Tại địa phương bản thân bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo tham gia giao thông nhưng chủ quan, thiếu tập trung quan sát, đi không đúng phần đường quy định và gây tại nạn làm nạn nhân chết. Do vậy, hành vi của bị cáo phải bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra - truy tố - xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo và gia đình đã tự nguyện, chủ động bồi thường khắc phục toàn bộ, kịp thời hậu quả cho gia đình người bị hại với số tiền 77.000.000 đồng (bảy mươi bảy triệu) nên bị cáo còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo có ông N1 ruột là ông Nguyễn Đắc T1 là thương binh và có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cáo quý; được Hiệu trưởng trường trung học cơ sở P1 có văn bản đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bản thân bị cáo có nhiều cố gắng trong công tác; có hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, thu nhập của bản thân chỉ đủ phục vụ cho nhu cầu tối thiểu cho bản thân; số tiền bị cáo bồi thường cho người bị hại có được là do bị cáo và gia đình vay mượn của nhiều người mà có; hiện nay vợ chồng bị cáo đã sống ly thân với nhau là người trực tiếp nuôi con nhỏ. Ngoài ra, bản thân bị cáo cũng bị thương tích 24 % vĩnh viễn... Do vậy, bị cáo còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong vụ tai nạn này cũng có một phần lỗi của người bị hại khi tham gia giao thông.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện viện kiểm sát cũng đề nghị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đồi với bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo.
Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; ý kiến, đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đáng lẽ ra phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; việc không tước bỏ quyền tự do cho bị cáo là nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện viện kiểm sát. Áp dụng Điều 35 (phạt tiền) là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo. Đồng thời, cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sữa chữa lỗi lầm để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội và có cơ hội tiếp tục giảng dạy, tiếp tục “vì sự nghiệp trồng người”.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự còn quy định hình phạt bổ sung là “...có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, tuy nhiên xét về hoàn cảnh, công việc, nghề nghiệp hiện tại của bị cáo Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Giữa bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, gia đình người bị hại không tiếp tục yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng của vụ án:
+ 01 (một) xe mô tô biển số 49M1-129.03 là tài sản hợp pháp là gia đình bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, hiện bị cáo đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ 01 (một) xe mô tô biển số 49M6-4540 do ông K’Đôl điều khiển ngày 19/8/2024. Sau khi phục vụ công tác giám định, Cơ quan Công an đã trả lại cho người nhà của ông K’Đôl nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Bích P do Sở G cấp ngày 23/12/2015. Đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử, do vậy được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P 50.000.000 đồng (năm mươi triệu). - Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thị Bích P 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Thị Bích P do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 23/12/20153 sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người đại diện của người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lập |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có toi
