TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 11 năm 2024 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hoàng Quốc Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1983 (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1993 (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/8/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Ngày 31/3/2021, chị Đinh Thị H với anh Hà Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó cuộc sống chung bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị H đã bỏ về ở nhà bố mẹ đẻ tại xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ từ đầu năm 2023, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó. Nay xét tình cảm không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn T.
Về con chung:
Quá trình chung sống, vợ chồng chị H, anh T có 01 con chung là cháu Hà Đăng K, sinh ngày 13/01/2022. Nay vợ chồng ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu K đến khi cháu khôn lớn trưởng thành và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
[2]. Về phía Bị đơn anh Hà Văn T:
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2024, anh Hà Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Anh T xác nhận về thời gian vợ chồng kết hôn, chung sống, ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị H trình bày trong đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai là đúng. Nay chị H xin ly hôn, anh không đồng ý, anh muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung.
Về con chung:
Vợ chồng có một con chung như chị H trình bày là đúng. Hiện cháu đang ở cùng với anh. Nếu vợ chồng phải ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng cháu K đến khi cháu khôn lớn trưởng thành và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng:
Không đề nghị Tòa án giải quyết.
[3]. Quan điểm của đại diện UBND xã T: Tại Biên bản xác minh ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn với đại diện UBND xã T, địa phương cung cấp như sau:
Về tình trạng hôn nhân:
Chị Đinh Thị H và anh Hà Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ ngày 31/3/2021. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng với gia đình anh T tại khu D, xã T, huyện T. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến đầu năm 2023 thì anh chị thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương khuyên bảo nhưng anh chị vẫn không chủ động và không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc. Từ khi phát sinh mâu thuẫn đến nay chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, vợ chồng sống ly thân nhau. Nay chị H có đơn khởi kiện xin được ly hôn anh T, UBND xã T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung:
chị H và anh T có 01 con chung là cháu Hà Đăng K, sinh ngày 13/01/2022. Cả anh T và chị H đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, cháu K thì còn nhỏ tuổi. Vì vậy, nếu hai anh chị ly hôn, UBND xã T đề nghị Toà án giải quyết đảm bảo lợi ích tốt nhất cho cháu K.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp:
Chị H, anh T không đề nghị Toà án giải quyết nên địa phương không có ý kiến gì.
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án nên đây là vụ án không tiến hành hoà giải được. Thẩm phán đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn và Bị đơn đúng theo khoản 1 Điều 175, khoản 1,2 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn, Bị đơn đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Chị H, anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Về con chung:
Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu: Hà Đăng K, sinh ngày 13/01/2022. Khi ly hôn chị H có quan điểm nguyện vọng xin được quyền trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Nhận thấy, khi ly hôn nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là nguyện vọng chính đáng của các bậc làm cha, mẹ. Tuy nhiên, khi giao con chung cho cha mẹ nuôi dưỡng khi ly hôn cần căn cứ và các điều kiện về độ tuổi, tinh thần và vật chất. Hiện nay cháu K chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần mẹ ở cùng để chăm sóc. Do vậy, cần giao cháu K cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.
Đối với tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp:
Chị H, anh T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào chị H, anh T có yêu cầu thì anh, chị có quyền làm đơn đề nghị giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định.
Về án phí dân sự:
Chị Đinh Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Chị Đinh Thị H có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho chị được ly hôn với anh Hà Văn T, sinh năm 1993; trú tại: Khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án. Vì vậy, Tòa án xác định vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị H và anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H, anh T theo quy định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị H, anh T trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Năm 2021 hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị H cho rằng từ đầu năm 2023 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Từ khi xảy ra mâu thuẫn, chị và anh T đã chính thức ly thân, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên chị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía anh T muốn vợ chồng về đoàn tụ nên không đồng ý ly hôn với chị H.
Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H và anh T, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T thấy rằng: Lời trình bày của chị H về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh T là hoàn toàn đúng. Đại diện địa phương cũng xác nhận chị H và anh T chung sống không hòa thuận hạnh phúc, hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh T đã đến mức trầm trọng, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình.
[3]. Về con chung:
Trong quá trình chung sống, chị H, anh T có 01 con chung là cháu Hà Đăng K, sinh ngày 13/01/2022.
Khi ly hôn, chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K và không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Xét thấy, cháu K hiện nay mới chỉ 34 tháng tuổi, còn nhỏ tuổi và cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi con chung của chị H là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi chị H, anh T có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.
[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng:
Chị H, anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này chị H, anh T có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.
[5]. Về án phí:
Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[6]. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; 57; khoản 1, 2 Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Hà Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị Đinh Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Hà Đăng K, sinh ngày 13/01/2022 kể từ tháng 11 năm 2024 đến khi cháu K thành niên, tự lao động được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004686 ngày 02/10/2024. Nay được chuyển thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị H, anh T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Chí |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H khởi kiện ly hôn anh T
