Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày 23/10/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với các Bị cáo:

  1. Họ và tên: Đặng Văn T; tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 25 tháng 7 năm 1990;

    Nơi ĐKNKTT: bản S, xã M, huyện P, tỉnh Sơn La;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 7/12;

    Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông: Đặng Văn T1, sinh năm 1966 và bà Phùng Thị T2, sinh năm 1966;

    Anh, chị, em ruột: có 04 anh, chị, em ruột (bị cáo là con thứ ba);

    Có vợ: Bàn Thị P, sinh năm 1993 và 04 con (Lớn 14 tuổi, nhỏ 08 tuổi);

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến ngày 16/9/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).

  2. Họ và tên: Bàn Thị P, tên gọi khác: Không;

    Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1993;

    Nơi ĐKNKTT: bản S, xã M, huyện P, tỉnh Sơn La;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 8/12;

    Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông: Bàn Văn D, sinh năm 1975 và bà Triệu Thị D1, sinh năm 1975;

    Anh, chị, em ruột: có 04 anh, chị, em ruột (bị cáo là con cả);

    Có chồng: Đặng Văn T, sinh năm 1990 và 04 con (Lớn 14 tuổi, nhỏ 8 tuổi);

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Quá trình điều tra Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho Bị cáo T: ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Người bào chữa cho Bị cáo P: ông Bùi Đức D2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Vườn Quốc gia X1; Địa chỉ: xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Người đại diện theo ủy quyền cho Nguyên đơn dân sự: ông Hoàng Gia K – chức vụ: Phó Giám đốc Vườn Quốc gia X1 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của các Bị cáo:

Do muốn có đất canh tác để trồng sắn, ngô dùng cho việc chăn nuôi phát triển kinh tế trong gia đình nên khoảng tháng 01/2024, Đặng Văn T, sinh năm 1990 cùng vợ là Bàn Thị P, sinh năm 1993 - đều trú quán tại bản S, xã M, huyện P, tỉnh Sơn La mang theo 01 con dao và 01 cái rìu cùng rủ nhau đi vào khoảnh 3, tiểu khu B thuộc Vườn quốc gia X để chặt hạ, phát cây. Sau khi phát xong đến khoảng đầu tháng 02/2024 khi các cây bụi đã khô, T và P cùng nhau vào Vườn quốc gia X mang theo máy lửa đi đốt và xử lý thực bì, sau khi đốt cháy thì vài hôm sau, T và P đã trồng sắn và ngô trên diện tích đã đốt cháy thực bì trên.

Đến ngày 25/3/2024, Đội chuyên trách bảo vệ rừng thuộc Vườn quốc gia X có nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra rừng phát hiện tại khoảnh 3, tiểu khu B thuộc Vườn quốc gia X có 01 lô rừng bị đốt cháy, huỷ hoại. Xác định có dấu hiệu tội phạm nên ngày 18/4/2024, Vườn quốc gia X báo cáo hành vi huỷ hoại rừng đến Công an xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, X1 cung cấp nội dung: Vị trí lô đất bị chặt hạ, đốt nằm ở khoảnh C tiểu khu B thuộc Vườn quốc gia X, tỉnh Phú Thọ là rừng tự nhiên thuộc rừng đặc dụng theo bản đồ phương án quản lý rừng bền vững Vườn quốc gia X giai đoạn 2023-2030 và bản đồ giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên Vườn quốc gia X. Vị trí trên thuộc xóm D, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ được giao khoán cho tổ bảo vệ rừng xóm C, xã X.

Ngày 02/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác định hiện trường: Kết quả xác định khu vực rừng bị chặt phá đốt cháy có diện tích là 1.780m². Lâm sản bị thiệt hại bao gồm 92 cây thân gỗ có đường kính từ 10-30cm còn để lại gốc cây, trong đó chủ yếu là cây Lát X, ngoài ra còn có các cây Xoan Đào, M, Phổi B, Ba S... và một số cây tái sinh có đường kính nhỏ 03-08cm. Hiện trường còn để lại 52 cây chặt hạ và đốt cháy nham nhở.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Ngày 06/6/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đến Chi cục kiểm lâm tỉnh P. Tại bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 02-2024/KL-CCKL, ngày 14/6/2024 của Chi cục kiểm lâm tỉnh P kết luận:

  • - Xác định loại rừng: Lô rừng 1.780m² bị chặt phá, huỷ hoại thuộc rừng đặc dụng - Vườn Quốc gia X.
  • - Xác định chủng loại gỗ: 92 cây gỗ bị chặt hạ tại hiện trường vụ phá rừng có tên thông thường là Dung G, Lát X, N, Hu Đ, B, C, Vàng A.
  • - Xác định khối lượng 52 cây còn để tại hiện trường có tổng khối lượng là 5,491m³.

Ngày 16/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 22 đối với vụ án “Huỷ hoại rừng” xảy ra trong khoảng thời gian tháng 01 năm 2024 tại khoảnh 3, tiểu khu B thuộc Vườn quốc gia X.

Ngày 26/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Văn T và Bàn Thị P về tội “Huỷ hoại rừng” quy định tại khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (nay viết tắt là BLHS năm 2015) đồng thời ra Lệnh tạm giam đối với Đặng Văn T để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã yêu cầu hội đồng định giá định giá đối với 52 cây gỗ trên. Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện T kết luận Tổng giá trị thiệt hại là: 3.590.000 đồng (Ba triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án gồm có:

  • - 01 con dao dài 43cm, chuôi dao bằng gỗ dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm phần lưỡi dao sứt mẻ, dao đã cũ, đã qua sử dụng và 01 rìu bằng gỗ dài 72cm, lưỡi rìu bằng kim loại dài 15cm, phần gỗ đối trọng gắn với lưỡi rìu dài 50cm, rìu đã cũ, đã qua sử dụng. Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 18/10/2024.
  • - 52 cây gỗ còn để lại tại hiện trường với khối lượng 5,491m³ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T bàn giao lại cho Vườn Quốc gia X quản lý, bảo quản theo quy định.

Về tài sản của các Bị cáo: qua xác minh, các bị cáo có tài sản như sau: vợ chồng Đặng Văn T và Bàn Thị P hiện đang sinh sống trong ngôi nhà tạm của bố đẻ của T là ông Đặng Văn T1 tại bản Suối Gà, xã M, huyện P, tỉnh Sơn La, gia đình có 08 nhân khẩu, gia đình các bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương. Các bị cáo đều là lao động tự do, bản thân không có tài sản gì riêng ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân. Thu nhập bình quân ở xã M, huyện P, tỉnh Sơn La là khoảng 18.000.000đ/ năm.

Về dân sự:

- Ngày 25/9/2024, các Bị cáo đã bồi thường số tiền 3.000.000đ cho Vườn quốc gia X1 để khắc phục hậu quả (chị Hà Kim H là em gái các Bị cáo nộp thay tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn).

- Tại phiên toà ngày hôm nay, Người đại diện của Nguyên đơn dân sự yêu cầu các Bị cáo phải phục hồi lại 1.780m² rừng đã bị các Bị cáo chặt phá, huỷ hoại bằng cách trồng lại 92 (chín mươi hai) cây xoan đào tại vị trí tương ứng.

3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 28/CT-VKSTS ngày 30/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P về tội “Huỷ hoại rừng” theo điểm d khoản 1 Điều 243 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 243; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 36 của BLHS năm 2015:
  • + Xử phạt Bị cáo Đặng Văn T từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ cho Bị cáo Thước 53 ngày tạm giam quy đổi thành 159 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Đặng Văn T còn phải chấp hành từ 03 (ba) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày đến 06 (sáu) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
  • + Xử phạt Bị cáo Bàn Thị P từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án. Giao Bị cáo T và Bị cáo P cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình các Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo trong thời gian thi hành bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P.

Bị cáo T và Bị cáo P phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo.
  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
  • + Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo Đặng Văn T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 39 ngày 01/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • + Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo Bàn Thị P theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 120 ngày 26/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T.
  • - Về trách nhiệm dân sự:
  • + Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P cho Vườn Quốc gia X1 số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) để khắc phục hậu quả (do chị Hà Kim H là em gái các Bị cáo nộp thay tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn vào ngày 25/9/2024).
  • + Ghi nhận yêu cầu của Người đại diện cho Vườn Quốc gia X1 buộc các Bị cáo phải phục hồi lại 1.780m² rừng đã bị các Bị cáo chặt phá, huỷ hoại bằng cách trồng lại 92 (chín mươi hai) cây xoan đào tại vị trí tương ứng.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dài 43cm, chuôi dao bằng gỗ dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm phần lưỡi dao sứt mẻ, dao đã cũ, đã qua sử dụng và 01 rìu bằng gỗ dài 72cm, lưỡi rìu bằng kim loại dài 15cm, phần gỗ đối trọng gắn với lưỡi rìu dài 50cm, rìu đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là công cụ, phương tiện các Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng.
  • + Xác nhận ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã bàn giao lại 52 cây gỗ còn để lại tại hiện trường với khối lượng 5,491m³ cho Vườn Quốc gia X1 quản lý, bảo quản theo quy định.

4. Người bào chữa cho các Bị cáo phát biểu quan điểm:

Đồng ý với điểm, khoản, Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với Bị cáo T và Bị cáo P. Tuy nhiên, các Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đồng thời mục đích, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội của các Bị cáo cũng chỉ là muốn phát triển kinh tế gia đình, nuôi các con nhỏ và bố mẹ già yếu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các Bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương với thời gian cải tạo ở mức thấp theo đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

5. Các Bị cáo nói lời sau cùng:

các Bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; thừa nhận Bản cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai của các Bị cáo thống nhất, phù hợp với vật chứng thu được cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Như vậy đã xác định được: Vào khoảng tháng 01/2024, do muốn có đất canh tác để trồng sắn, ngô dùng cho việc chăn nuôi phát triển kinh tế trong gia đình nên Đặng Văn T, sinh năm 1990 cùng vợ là Bàn Thị P, sinh năm 1993 - đều trú quán tại bản S, xã M, huyện P, tỉnh Sơn La mang theo 01 con dao và 01 cái rìu cùng rủ nhau đi vào khoảnh 3, tiểu khu B thuộc Vườn quốc gia X để chặt hạ, phát cây. Sau khi phát xong đến khoảng đầu tháng 02/2024 khi các cây bụi đã khô, T và P cùng nhau vào Vườn quốc gia X mang theo máy lửa đi đốt và xử lý thực bì, sau khi đốt cháy thì vài hôm sau, T và P đã trồng sắn và ngô trên diện tích đã đốt cháy thực bì trên. Tổng diện tích các bị cáo chặt phá, huỷ hoại rừng là 1.780m² là loại rừng đặc dụng của Vườn quốc gia X và 52 cây gỗ còn ở tại hiện trường có giá trị là 3.590.000đ.

Do diện tích rừng đặc dụng mà bị cáo T và bị cáo P đã hủy hoại nằm trong khoảng từ 1000m² đến dưới 3000m², các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, phương thức thực hiện giản đơn, mục đích là muốn có đất canh tác để trồng sắn, ngô dùng cho việc phát triển kinh tế gia đình dẫn đến hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 243 của BLHS năm 2015.

Tại điểm d khoản 1 Điều 243 của BLHS năm 2015 quy định:

Điều 243. Tội hủy hoại rừng

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2);”.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

  • - Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước, gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái cũng như chế độ bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng tại Vườn Quốc gia X. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi huỷ hoại rừng tự nhiên là phạm pháp nhưng với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu đất canh tác mà các bị cáo đã bất chấp vi phạm pháp luật. Vì vậy hành vi phạm tội của các Bị cáo cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  • - Về vai trò của các bị cáo trong vụ án này như nhau: Bị cáo T và bị cáo P đều cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ là do tự phát, không chuẩn bị phương tiện và phân công nhau nên không coi là phạm tội có tổ chức.
  • - Về nhân thân các Bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho Vườn quốc gia X số tiền 3.000.000đ vào ngày 25/9/2024; các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra, quá trình điều tra các bị cáo đã tích cực giúp đỡ Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T trong quá trình điều tra vụ án “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” xảy ra tại Vườn quốc gia X. Vì vậy, các Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, các Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích là để phát triển kinh tế gia đình, nuôi các con còn nhỏ và bố mẹ già yếu. Do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, đối với Bị cáo T là người trụ cột trong gia đình, đã được chính quyền địa phương cũng như phía Vườn Quốc gia X tuyên truyền về việc bảo vệ rừng đặc dụng nhưng vẫn không thực hiện mà ngược lại còn chặt phá, đốt rừng để làm nương rẫy. Do đó, cân nhắc đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt Bị cáo Thước hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Việc phía đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với Bị cáo là chưa đủ sức răn đe, giáo dục nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Đối với Bị cáo Bàn Thị P thì hình phạt cải tạo không giam giữ dành cho Bị cáo là phù hợp, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Thời gian cải tạo ở mức cao hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà mới đủ để giáo dục Bị cáo cũng như phù hợp với quy định tại Điều 36 của BLHS năm 2015.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của BLHS năm 2015 thì Bị cáo P còn có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5 % đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, qua xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thấy rằng, hiện Bị cáo P đang sinh sống cùng gia đình trong ngôi nhà tạm của bố chồng là ông Đặng Văn T1 tại bản Suối Gà, xã M, huyện P, tỉnh Sơn La, gia đình bị cáo có 08 nhân khẩu và thuộc diện hộ nghèo tại địa phương. Bị cáo là lao động tự do, bản thân không có tài sản gì riêng ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân. Vì vậy, cần miễn khấu trừ thu nhập cho Bị cáo là phù hợp.

Do Bị cáo P là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 36 của BLHS năm 2015.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của BLHS năm 2015 thì các Bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên qua xác minh về tài sản của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T thì thấy, các Bị cáo không có tài sản gì có giá trị lớn; thu nhập không ổn định, và nhà đất là tài sản duy nhất được sử dụng chung trong gia đình. Do đó, cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

- Hội đồng xét xử ghi nhận các Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả số tiền 3.000.000đ cho Vườn quốc gia X1 là đơn vị được giao quản lý, bảo vệ rừng là Nguyên đơn dân sự trong vụ án (do chị Hà Kim H là em gái các Bị cáo nộp thay tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn vào ngày 25/9/2024).

- Tại phiên tòa ngày hôm nay, Người đại diện cho Vườn Quốc gia X1 yêu cầu các Bị cáo phải phục hồi lại 1.780m² rừng đã bị các Bị cáo chặt phá, huỷ hoại bằng cách trồng lại 92 (chín mươi hai) cây xoan đào tại vị trí tương ứng. Các Bị cáo cũng đồng ý với đề nghị này. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận trong Bản án là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 con dao dài 43cm, chuôi dao bằng gỗ dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm phần lưỡi dao sứt mẻ, dao đã cũ, đã qua sử dụng và 01 rìu bằng gỗ dài 72cm, lưỡi rìu bằng kim loại dài 15cm, phần gỗ đối trọng gắn với lưỡi rìu dài 50cm, rìu đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là công cụ, phương tiện các Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 52 cây gỗ còn để lại tại hiện trường với khối lượng 5,491m³. Xác nhận ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã bàn giao lại cho Vườn Quốc gia X1 là đơn vị có trách nhiệm quản lý, bảo quản theo quy định.

[6] Về án phí: Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P đều là người dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời gia đình các Bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các Bị cáo là phù hợp.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bào chữa, Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa cho các Bị cáo tại phiên tòa là chưa phù hợp, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ kết tội:

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 243 của BLHS năm 2015:

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P phạm tội “Hủy hoại rừng”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 243; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của BLHS năm 2015:

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23 tháng 10 năm 2024.

Giao Bị cáo Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Bị cáo trong thời gian thi hành bản án.

Trong trường hợp Bị cáo Đặng Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 243; điểm b, s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 36 của BLHS năm 2015:

Xử phạt: Bị cáo Bàn Thị P 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án.

Giao Bị cáo P cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Bị cáo trong thời gian thi hành bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo Bàn Thị P.

Bị cáo Bàn Thị P phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P.

- Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo Đặng Văn T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 39 ngày 01/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo Bàn Thị P theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 120 ngày 26/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T.

- Áp dụng khoản 2 Điều 36 của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2023):

Tạm hoãn xuất cảnh đối với Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P trong thời gian chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 BLHS năm 2015 và các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự:

- Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P cho Vườn Quốc gia X1 số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) để khắc phục hậu quả. Xác nhận chị Hà Kim H là em gái các Bị cáo đã nộp thay số tiền trên tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn theo Biên lai thu số 0003781 ngày 25/9/2024.

- Ghi nhận yêu cầu của Người đại diện cho Vườn Quốc gia X1 tại phiên toà, buộc các Bị cáo phải phục hồi lại 1.780m² rừng đã bị các Bị cáo chặt phá, huỷ hoại bằng cách trồng lại 92 (chín mươi hai) cây xoan đào tại vị trí tương ứng.

4. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dài 43cm, chuôi dao bằng gỗ dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm phần lưỡi dao sứt mẻ, dao đã cũ, đã qua sử dụng và 01 rìu bằng gỗ dài 72cm, lưỡi rìu bằng kim loại dài 15cm, phần gỗ đối trọng gắn với lưỡi rìu dài 50cm, rìu đã cũ, đã qua sử dụng.

Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 18/10/2024.

- Xác nhận ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã bàn giao lại 52 cây gỗ còn để lại tại hiện trường với khối lượng 5,491m³ cho Vườn Quốc gia X1 quản lý, bảo quản theo quy định.

5. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, 15, điểm g khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo Đặng Văn T và Bị cáo Bàn Thị P.

6. Về quyền kháng cáo:

Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh
  • - CQ CSĐT Công an huyện;
  • - CQ THA dân sự huyện;
  • - UBND nơi b/c thường trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Chí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về huỷ hoại rừng (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại rừng (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Thước, Bàn Thị Phương đốt rừng làm nương rẫy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger