Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 28/2024/DS-ST

Ngày: 01-10-2024

“V/v: Tranh chấp chia di sản

thừa kế"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào Vi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Nam

Ông Phan Đắc Tuấn

-Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng Anh – Kiểm sát viên

Ngày 01 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 1176/2024/QĐ-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024, Thông báo mở lại phiên toà số 1600/TB-TA ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 1746/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2024, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05A/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 09A/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024; Thông báo mở lại phiên toà số 4058/TB-TA ngày 29 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 4341/2024/QĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; địa chỉ: Số I L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ hiện nay: Số B đường Đ, Khu tái định cư H, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
    2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A Kiệt A Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967; địa chỉ: Số C L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ hiện nay: E L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965; địa chỉ: Số I L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (đã chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H1:
      • + Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số E L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
      • + Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số E L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
    2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963. Địa địa: Khu phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A Kiệt A Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

    3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1956: Địa chỉ: Số I L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; hiện trú tại: A P, Y, NC B, Hoa Kỳ; có đơn xin xét xử vắng mặt.
    4. Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H. Địa chỉ: Số A L, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh T2 – Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ C – Chuyên viên, có mặt.
  4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư Nguyễn Văn K, Công ty L Cộng sự, thẻ Luật sư số 9897/LS. Địa chỉ: Số C L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2022, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung đề ngày 27/10/2022, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bố mẹ của ông, bà là cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị D1 có 06 người con chung, bao gồm ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1956; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965 (đã chết năm 2023), bà H1 có chồng là ông Nguyễn S1, đã chết năm 1996 và các con bao gồm: Nguyễn Duy T, sinh năm 1992, Nguyễn Duy T1, sinh năm 1982. Cụ Nguyễn Văn Đ chết năm 1986, cụ Nguyễn Thị Diệu C1 năm 2014, các cụ đều không có con riêng. Bố mẹ đẻ của cụ Nguyễn Văn Đ là cụ Phan Văn M (chết năm 1968) và cụ Lê Thị H2 (chết năm 1980). Bố mẹ đẻ của cụ Nguyễn Thị D1 là cụ Nguyễn S2 (chết năm 1943) và cụ Nguyễn Thị N1 (chết năm 1972). Cụ Đ và cụ D1 khi chết không để lại di chúc.

Quá trình sống chung, cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị D1 có tạo lập được khối tài sản bao gồm thửa đất số 22, tờ bản đồ số 2 (bản đồ địa chính 202 đo vẽ năm 1997) với diện tích 848,5m² tọa lạc tại I L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 24/08/2020, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 5608/QĐ- UBND về việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng thu hồi diện tích 848,5m² đất nói trên của cụ Đ, cụ D1. Đến ngày 24/08/2021, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 5700/QĐ- UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án Đầu tư bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế (khu vực Eo bầu) tại phường T, thành phố H và phụ lục đính kèm chi trả kinh phí bồi thường hỗ trợ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1, địa chỉ: I L, phường T, thành phố H với số tiền: 3.665.750.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ sáu trăm sáu mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

Ngày 14/04/2021, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 1965/QĐ- UBND về việc giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cha mẹ nguyên đơn là ông, bà Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 210m², thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số: 17, tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 08/12/2020). Ngày 23/07/2021, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành 03 Quyết định bồi thường hỗ trợ tái định cư với 03 thửa đất cụ thể: Quyết định số 4809/QĐ-UBND giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 60m², thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 28/04/2021) và Quyết định số 4813/QĐ-UBND giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 60m², thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 28/04/2021) và Quyết định số số 4814/QĐ- UBND giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 60m², thửa đất số 1124 (L- 42), tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 28/04/2021).

Tuy nhiên, hiện nay anh trai ông, bà là ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1967, thường trú tại C L, T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một trong các đồng thừa kế muốn giữ lại nhà đất trên để làm nhà thờ nhưng ông, bà và các đồng thừa kế còn lại muốn bán để chia thừa kế, nếu ông Q muốn giữ lại nhà thì phải chia phần giá trị tương ứng cho các đồng thừa kế còn lại. Nhưng ông Q không đồng ý, gia đình ông bà đã được Ủy ban nhân dân phường T hòa giải nhưng vẫn không giải quyết được. Khi Nhà nước thực hiện thu hồi nhà đất tại C L, hộ ông D và hộ ông Q mỗi người được Nhà nước cấp 01 lô đất phụ.

Nay, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 là khối di sản thừa kế bao gồm các thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.; thửa đất số 1124 (L- 42), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và số tiền bồi thường hỗ trợ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 (Theo thông tin do Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố cung cấp) là 2.112.170.000 đồng. Mỗi ông, bà đề nghị được nhận nhận 1/6 (một phần sáu) phần di sản thừa kế trong khối di sản nói trên. Ông D, bà H đều muốn nhận hiện vật đối với phần tài sản được thừa kế theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Ông thống nhất với những thông tin liên quan đến những người thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1; di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 bao gồm thửa đất số 22, tờ bản đồ số 2 (bản đồ địa chính 202 đo vẽ năm 1997) với diện tích 848,5m² tọa lạc tại I L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến năm 2020, Nhà nước thực hiện thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ tái định cư, giao đất cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1, bao gồm: thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.; thửa đất số 1124 (L-42), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và số tiền bồi thường hỗ trợ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 (Theo thông tin do Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố cung cấp) là 2.112.170.000 đồng do nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn D trình bày.

Nguồn gốc thửa đất thửa đất số 22, tờ bản đồ số 2 (bản đồ địa chính 202 đo vẽ năm 1997) với diện tích 848,5m² tọa lạc tại C L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế là của bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị D1, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi bố ông mất, mẹ ông sống một mình ở nhà đất trên. Còn ông và các anh em ở nhà xung quanh mẹ ông và chăm lo ăn uống, chăm sóc cho mẹ. Đến khi mẹ ông mất năm 2014 thì nhà đất trên bỏ trống, không ai sử dụng. Khi cụ D1 mất thì anh em trong nhà lập nhà thờ để thờ cả cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị D1 tại căn nhà trên. Khi nào có cúng cấp thì anh em mới đến dọn sơ qua, không thì cũng bỏ trống.

Đối với thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại Khu Đ, giai đoạn D, phường H, thành phố H (diện tích 210m²) khi ra bốc thửa ở phường ông có biết, khi đó anh em trong nhà có tranh chấp nhau nên ông đưa giấy tờ cho ông D và bà H để 2 người đó tự bốc, ông đi về. Còn đối với 03 lô đất sau thửa đất số 1031 (K-14); thửa đất số 1123 (L-41); thửa đất số 1124 (L-42) là ông D, bà H tự bốc, ông không hề hay biết. Đối số tiền kinh phí bồi thường hỗ trợ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 hiện nay cũng chưa được nhận, vẫn còn ở Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H.

Khi Nhà nước thực hiện thu hồi nhà đất tại C L, ông Q được Nhà nước cấp 01 lô đất phụ, hiện nay ông đã chuyển nhượng lô đất phụ đó cho người khác.

Nay ông D, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế của bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1, ông có ý kiến như sau: Đối với thửa đất số 427(D4-21), tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại Khu Đ, giai đoạn D, phường H, thành phố H (diện tích 210m²) ông có nguyện vọng được xây nhà thờ để thờ cúng bố mẹ ông; còn 03 thửa đất còn lại là thửa đất số 1031 (K-14), thửa đất số 1123 (L-41); thửa đất số 1124 (L-42) và số tiền bồi thường thì chia đều 06 anh em trong gia đình.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N trình bày:

Ông, bà thống nhất với những thông tin liên quan đến những người thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1; di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 để lại. Ông, bà đề nghị được nhận 1/6 (một phần sáu) phần di sản thừa kế trong khối di sản nói trên. Ông, bà mỗi người muốn nhận hiện vật đối với phần tài sản được thừa kế theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 trình bày:

Ông T, ông T1 là con chung của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn S1. Ông Nguyễn S1 chết năm 1996, bà Nguyễn Thị H1 chết năm 2023. Ông Nguyễn S1, bà H1 khi chết không để lại di chúc, ông bà đều không có con riêng. Các ông thống nhất với những thông tin liên quan đến những người thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1; di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 để lại. Khi Nhà nước thực hiện thu hồi nhà đất tại C L, hộ bà Nguyễn Thị H1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn S1 được Nhà nước cấp 01 lô đất phụ. Ông T1, ông T đề nghị cùng được nhận 1/6 (một phần sáu) phần di sản thừa kế trong khối di sản nói trên. Ông T1, ông T muốn nhận hiện vật đối với phần tài sản được thừa kế theo quy định của pháp luật là 01 lô đất tái định cư có diện tích 60m²

Tại Công văn số 2307/TTPTQĐ-GPMB ngày 27/5/2024 của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H:

Theo Quyết định số 5700/QĐ-UBND ngày 24/8/2020 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ gia đình và cá nhân thuộc dự án Đầu tư bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống Kinh thành H (Khu V) tại phường T, thành phố H. Trong đó, bồi thường, hỗ trợ cho các đồng thừa kế của ông, bà Nguyễn Văn Đ-Nguyễn Thị D1 với tổng số tiền 3.665.750.000 đồng (về đất: 3.489.063.000 đồng; về tài sản và các khoản hỗ trợ khác 176.687.000 đồng)

Các đồng thừa kế của ông, bà Nguyễn Văn Đ-Nguyễn Thị D1 đã nhận đất tái định cư là 04 lô và đã có quyết định giao đất, trong đó:

  • + Lô D4-21, thửa đất số 427, tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², khu vực H, phường H, với số tiền khấu trừ là 926.100.000 đồng.
  • +Lô K-14, thửa đất số 1031, tờ bản đồ số 10, diện tích 60m², khu vực 6 phường H, với số tiền khấu trừ là 209.160.000 đồng.
  • +Lô L-41, thửa đất số 1123, tờ bản đồ số 10, diện tích 60m², khu vực 6 phường H, với số tiền khấu trừ là 209.160.000 đồng.
  • +Lô L-42, thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 10, diện tích 60m², khu vực 6 phường H, với số tiền khấu trừ là 209.160.000 đồng.

Sau khi có quyết định giao đất cho các đồng thừa kế của ông bà Nguyễn Văn Đ-Nguyễn Thị D1, Trung tâm phát triển quỹ đất đã khấu trừ tiền sử dụng đất đối với 04 lô đất trên và đã nộp tiền vào ngân sách Nhà nước với tổng số tiền là 1.553.580.000 đồng, số tiền còn lại sau khi khấu trừ tiếp tục chi trả là 2.112.170.000 đồng nhưng các đồng thừa kế của ông, bà Nguyễn Văn Đ-Nguyễn Thị D1 chưa nhận tiền, đang được Kho bạc nhà nước tạm giữ.

Kết quả định giá tài sản ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá và bản vẽ hiện trạng nhà đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai lập ngày 14/8/2023, xác định:

Thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 4.200.000.000 đồng. Thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 960.000.000 đồng. Thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 960.000.000 đồng. Thửa đất số 1124 (L-42), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 960.000.000 đồng. Trên các thửa đất đều không có tài sản.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn D, yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị D1 theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng, không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1, khoản 4 Điều 34, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 613, 614, 620, 623, 649, 650, 651 và Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D bà Nguyễn Thị H về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 là quyền sử dụng đất tại: Lô D,thửa đất số 427, tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², khu vực H, phường H; Lô K, thửa đất số 1031, tờ bản đồ số 10, diện tích 60m², khu vực 6 phường H; lô L-41, thửa đất số 1123, tờ bản đồ số 10, diện tích 60m², khu vực 6 phường H và Lô K, thửa đất số 1124, tờ bản đồ số 10, diện tích 60m², khu V, phường H. Tổng giá trị tài sản 04 thửa đất: 4.200.000.000 đồng + (960.000.000 đồng x3) = 7.080.000.000 đồng và số tiền bồi thường còn lại chưa nhận là: 2.112.170.000 đồng để phân chia cho những người thừa kế.
    2. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ, cụ D1 gồm 06 người, là các ông, bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954, chết ngày 19/3/2023, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H1 là anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1983, anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1992; ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1956; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; và ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970. Cha mẹ cụ Đ, cụ D1 đều chết trước họ, các cụ không có thêm người con nào khác.
    3. Chia di sản thừa kế:
      • - Tiền bồi thường: 2.112.170.000 đồng
      • Mỗi kỷ phần được nhận là: 2.112.170.000 đồng : 06 = 352.028.333 đồng/ kỷ phần .
      • - Tổng diện tích 04 lô đất là: 210 m² + ( 60 m² x 3) = 390 m².
      • Mỗi kỷ phần được nhận là: 390 m² : 6 = 65 m²/ kỷ phần.
      • + Giao cho ông D, bà H, bà N được nhận thửa đất số 427 (D4-21), diện tích 210m². Ông D, bà H, bà N phải thanh toán giá trị chênh lệch diện tích lại cho ông S, ông Q tương ứng với số tiền 100.000.000 đồng/người và thanh toán giá trị chênh lệch diện tích lại cho anh T1, anh T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H1 tương ứng với số tiền 100.000.000 đồng.
      • + Giao Thửa đất số 1031 (K-14), diện tích: 60m² cho ông Nguyễn Văn S.
      • + Giao Thửa đất số 1123 (L-41), diện tích: 60m² cho ông Nguyễn Văn Q
      • + Giao Thửa đất số 1124( L-42), diện tích: 60m² cho anh Nguyễn Duy T1 và anh Nguyễn Duy T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H1.

      Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có chức năng để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    4. Về chi phí thẩm định, định giá: ông Nguyễn Văn D bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí và đã nộp đủ.
    5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.
      • - Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H mỗi người phải chịu án phí dân sự theo mức tương ứng với giá trị phần di sản mà mình được chia là: 36.000.000 đồng + [(1.652.028.000 đồng - 800.000.000 đồng) x 3%] = 61.560.840 đồng.
      • - Ông Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự theo mức tương ứng với giá trị phần di sản mà mình được chia là: 36.000.000 đồng+ [(1.412.028.000 đồng - 800.000.000 đồng) x 3%] = 54.360.840 đồng.
      • - Anh Nguyễn Duy T1, anh Nguyễn Duy T (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H1) mỗi người phải chịu án phí dân sự theo mức tương ứng với giá trị phần di sản mà mình được chia là: 54.360.840 đồng : 2 = 27.180.420 đồng.
    6. Về nghĩa vụ, quyền yêu cầu thi hành án; quyền kháng cáo: tuyên theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Các đương sự tranh chấp thừa kế tài sản, bị đơn ông Nguyễn Văn Q thường trú tại C L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Huế. Tuy nhiên, do có phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Văn S định cư tại Hoa Kỳ trước thời điểm Tòa án nhân dân thành phố Huế thụ lý vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Huế đã chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế để giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 37, Điều 41 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Duy T1 nhưng ông S, ông T1 đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông S, ông T1.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn D, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về di sản thừa kế:

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận nhà đất thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 2 (bản đồ địa chính 202 đo vẽ năm 1997) với diện tích 848,5m² tọa lạc tại I L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế là của vợ chồng cụ Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Thị D1 để lại. Ngày 24/08/2020, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 5608/QĐ- UBND về việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng thu hồi diện tích 848,5m² đất nói trên của cụ Đ, cụ D1. Ngày 24/08/2021, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 5700/QĐ- UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án Đầu tư bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế (khu vực Eo bầu) tại phường T, thành phố H và phụ lục đính kèm chi trả kinh phí bồi thường hỗ trợ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1, địa chỉ: I L, phường T, thành phố H với số tiền: 3.665.750.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ sáu trăm sáu mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng chẵn). Ngày 14/04/2021, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 1965/QĐ- UBND về việc giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cha mẹ nguyên đơn là ông, bà Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 210m², thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số: 17, tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 08/12/2020). Ngày 23/07/2021, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành ban hành 03 Quyết định bồi thường hỗ trợ tái định cư với 03 thửa đất cụ thể: Quyết định số 4809/QĐ-UBND giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 60m², thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số: 10, tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 28/04/2021) và Quyết định số 4813/QĐ-UBND giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 60m², thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 28/04/2021) và Quyết định số số 4814/QĐ-UBND giao đất tái định cư cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 diện tích: 60m², thửa đất số 1124 (L- 42), tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (theo bản vẽ ngày 28/04/2021). Cụ Đ và cụ D1 chết không để lại di chúc. Do vậy, đây là di sản của cụ Đ và cụ D1 để lại và được chia thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ, cụ D1.

[2.2] Về diện, hàng thừa kế:

Cụ Nguyễn Văn Đ chết năm 1986, cụ Nguyễn Thị Diệu C1 năm 2014. Bố mẹ của cụ Đ, cụ D1 đều đã chết. Cụ Đ và cụ D1 không có con riêng, con nuôi. Các đương sự đều trình bày thống nhất hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ và cụ D1 gồm có 06 người là các ông, bà: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1956; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965 (đã chết năm 2022). Hiện nay bà Nguyễn Thị H1 đã chết, nên những người thừa kế của bà Nguyễn Thị H1 là ông Nguyễn Duy T và ông Nguyễn Duy T1 được hưởng phần thừa kế của bà Nguyễn Thị H1.

[2.3] Về phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị D1 theo pháp luật:

Di sản thừa kế là các thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.; thửa đất số 1124 (L-42), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế có tổng giá trị là 7.080.000.000 đồng và số tiền bồi thường hỗ trợ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 (Theo thông tin do Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố cung cấp) là 2.112.170.000 đồng. Di sản của cụ Đ, cụ D1 chia cho 06 người trong hàng thừa kế thứ nhất, giá trị mỗi kỷ phần thừa kế là: (7.080.000.000 đồng + 2.112.170.000 đồng) : 6 = 1.532.028.333 đồng.

[2.3.1] Về di sản thừa kế là các thửa đất, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị N đều cùng có nguyện vọng xin được nhận hiện vật là thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 4.200.000.000 đồng. Các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị H1 là ông Nguyễn Duy T, Nguyễn Duy T1 có nguyện vọng xin được nhận hiện vật là 01 lô đất tái định cư có diện tích 60m² tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 960.000.000 đồng. Do đó, di sản thừa kế có thể chia theo hiện vật, và để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho các bên cũng như điều kiện về đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 4.200.000.000 đồng, cho các ông, bà ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị N được quyền sử dụng, quản lý.

Giao thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 960.000.000 đồng cho các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị H1 là ông Nguyễn Duy T, Nguyễn Duy T1 quản lý, sử dụng.

Giao thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 960.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Q quản lý, sử dụng.

Giao thửa đất số 1124 (L-42), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tương ứng giá trị (theo giá thị trường) là 960.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn S quản lý, sử dụng. Do ông Nguyễn Văn S hiện đang định cư tại nước ngoài, do vậy phần di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn S sẽ tạm giao cho bà Nguyễn Thị H quản lý.

Tổng diện tích 04 lô đất là: 210m² + (60m² x3) = 390m² được chia đều cho 6 kỷ phần, mỗi kỷ phần được nhận là 390m² : 6 = 65m². Do thửa đất số 427 (D4-21) giao cho ông D, bà H và bà N có diện tích 210m² lớn hơn kỷ phần mỗi người được nhận là (210m² : 3) – 65m² = 05m², tương ứng với số tiền 05m² x 20.000.000 đồng/m² = 100.000.000 đồng. Do đó, ông D, bà H và bà N có nghĩa vụ thanh toán lại cho các đồng thừa kế là ông Nguyễn Văn S số tiền 100.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn Q số tiền 100.000.000 đồng, các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị H1 (là anh Nguyễn Duy T, Nguyễn Duy T1) số tiền 100.000.000 đồng (Ông D, bà H, bà N mỗi người có nghĩa vụ thanh toán số tiền là 100.000.000 đồng).

[2.3.2] Về di sản thừa kế là số tiền bồi thường 2.112.170.000 đồng do Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H đang quản lý, được chia thành 6 kỷ phần thừa kế, tương ứng với 352.028.333 đồng. Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn S mỗi người được hưởng 352.028.333 đồng. Ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 mỗi người được hưởng 352.028.333 đồng : 2 = 176.014.166 đồng.

[2.3.3] Các đương sự thống nhất không trích công sức gìn giữ, tôn tạo tài sản cho ai.

[3] Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng nên chấp nhận là 7.397.000 đồng, đã nộp đủ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn S mỗi người hưởng suất thừa kế 1.532.028.333 đồng. Các ông, bà đều trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà N, ông S.

Các ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H mỗi người được hưởng suất thừa kế 1.652.028.333 đồng. Do vậy, cần buộc mỗi người phải chịu số tiền án phí là 36.000.000 đồng + [3% x ( 1.652.028.333 đồng – 800.000.000 đồng) = 61.560.850 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn Q được hưởng suất thừa kế 1.412.028.333 đồng. Do vậy, cần buộc ông Q phải chịu số tiền án phí là 36.000.000 đồng + [3% x ( 1.412.028.333 đồng – 800.000.000 đồng) = 54.360.850 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 cùng được hưởng suất thừa kế 1.412.028.333 đồng. Do vậy, cần buộc ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 cùng phải chịu số tiền án phí là 36.000.000 đồng + [3% x (1.412.028.333 đồng - 800.000.000 đồng) = 54.360.850 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Mỗi người phải chịu 27.180.425 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; các Điều 37; Điều 41; Điều 147; Điều 164; Điều 165; 273; Điều 646; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 100, Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 12, Điều 13, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H.
  2. Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị Diệu G toàn bộ các thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thửa đất số 1124 (L-42), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tổng giá trị tài sản 04 thửa đất là 4.200.000.000 đồng + (960.000.000 đồng x 3) = 7.080.000.000 đồng và số tiền bồi thường hỗ trợ cho các đồng thừa kế của cụ Nguyễn Văn Đ - Nguyễn Thị D1 là 2.112.170.000 đồng.
  3. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị Diệu G có 06 người là các ông, bà: ông Nguyễn Văn S; bà Nguyễn Thị N; Ông Nguyễn Văn Q; bà Nguyễn Thị H; Ông Nguyễn Văn D; Bà Nguyễn Thị H1. Các ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 được hưởng phần thừa kế của bà Nguyễn Thị H1.
  4. Phân chia di sản thừa kế:
    • Giao cho ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị N cùng được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 427 (D4-21), tờ bản đồ số 17, diện tích 210m², tọa lạc tại Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có bản vẽ kèm theo) và mỗi người được nhận số tiền bồi thường 352.028.333 đồng.
    • Giao cho ông Nguyễn Văn Q được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 1123 (L-41), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có bản vẽ kèm theo) và số tiền bồi thường 352.028.333 đồng.
    • Giao cho ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 cùng được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 1031 (K-14), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có bản vẽ kèm theo) và mỗi người số tiền bồi thường 176.014.166 đồng.
    • Giao cho ông Nguyễn Văn S được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 1124 (L-42), tờ bản đồ số 10, diện tích 60m²; tọa lạc tại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B - Khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có bản vẽ kèm theo) và số tiền bồi thường 352.028.333 đồng. Tạm giao bà Nguyễn Thị H được quyền quản lý phần di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn S.
    • Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán lại cho các đồng thừa kế là ông Nguyễn Văn S số tiền 100.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn Q số tiền 100.000.000 đồng, các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị H1 (là anh Nguyễn Duy T, Nguyễn Duy T1) số tiền 100.000.000 đồng (Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị N mỗi người có nghĩa vụ thanh toán số tiền là 100.000.000 đồng).
    • Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đối với tài sản được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
    • Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H có nghĩa vụ chi trả toàn bộ số tiền bồi thường 2.112.170.000 đồng cho các ông bà: ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 theo phần mà các đồng thừa kế được nhận khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  5. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn D tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, chi phí lập Bản vẽ hiện trạng nhà đất là 7.397.000 đồng. Bà H, ông D đã nộp đủ.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho các ông bà: Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn S.
  7. Ông Nguyễn Văn D phải chịu số tiền án phí là 61.560.850 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 16.660.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005322 ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông Nguyễn Văn D phải nộp thêm 44.900.850 đồng.
  8. Bà Nguyễn Thị H phải chịu số tiền án phí là 61.560.850 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 16.660.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005321 ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bà Nguyễn Thị H phải nộp thêm 44.900.850 đồng.Ông Nguyễn Văn Q phải chịu số tiền án phí là 54.360.850 đồng.Các ông Nguyễn Duy T, ông Nguyễn Duy T1 mỗi người phải chịu 27.180.425 đồng.Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  9. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Đối với đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh TT Huế;
  • - Cục THADS tỉnh TT Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;Tòa DS;HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Đào Vi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 01/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger