Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HSPTNCTN

Ngày: 25 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên;
  • Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và ông Lê Quý My.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hiền, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự người chưa thành niên thụ lý số: 15/2024/TLST-HSPTNCTN ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo: Nguyễn Mạnh C, do có kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 97/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN MẠNH C, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 31/3/2006, tại Quảng Ninh; (tính đến ngày phạm tội được 17 tuổi 24 ngày); nơi cư trú: thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Đinh Thị V (đã chết); chưa có vợ, con. Tiền án: không, nhân thân: không.

Tiền sự: Ngày 27/6/2022, Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Đã nộp phạt ngày 02/11/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/12/2023 đến nay (trước đó bị tạm giữ từ ngày 25/4/2023 đến ngày 03/5/2023). (Có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo C có kháng cáo: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981, là bố đẻ bị cáo, nơi cư trú: thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo C có kháng cáo:

  • + Luật sư Trần C1, Văn phòng L2, Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số D K, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo C1 không kháng cáo:

Luật sư Nguyễn Thị Hằng N và Luật sư Đào Thị Bích N1, Văn phòng L2, Đoàn Luật sư thành phố H. Cùng địa chỉ: Số D K, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

- Các bị cáo không kháng cáo gồm: Chu Văn G, Nguyễn Đức C2, Phạm H1, Nguyễn Ngọc Minh Đ, Vi Thị Q, Lường Thị M. (Đều có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Đỗ Xuân V1, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
  • + Anh Chu Văn T, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
  • + Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1999, nơi cư trú: Thôn F, xã K, huyện B, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt)
  • + Chị Đồng Thị T1, sinh năm 1998, nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện nay: Trọ Đ, khu phố Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
  • + Chị Vương Thị Tuyết M1, sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
  • + Chị Đại Thị H2, sinh năm 1997, nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện nay: Tổ H, phường Q, thành phố T. (Vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1997, nơi cư trú: Phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. (Vắng mặt)
  • + Anh Dương Phương N2, sinh năm 1999, nơi cư trú: xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
  • + Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1990, nơi cư trú: tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nơi công tác: Bí thư Đoàn T3 phường T, thành phố T. (Có mặt)
  • + Anh Nguyễn Xuân Tuấn A, sinh năm 1993, nơi cư trú: thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
  • + Anh Vũ Ngọc Út L1, sinh năm 1984, trú tại: Tổ C, cụm A, phường X, quận T, thành phố Hà Nội (Vắng mặt)

- Người chứng kiến:

  • + Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1968; nơi cư trú: tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
  • + Ông Nguyễn Khắc Q1, sinh năm 1962, nơi cư trú: tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Ông Vũ Quang H4, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T. (Có mặt)
  • + Ông Quách Minh H5, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T. (Có mặt)
  • + Luật sư Hoàng Thị B, Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 02 giờ ngày 25/4/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T tiến hành kiểm tra quán K1 thuộc tổ A, phường C, thành phố T tại phòng VIP 14 của quán có 12 nam, nữ thanh niên, gồm: Chu Văn G, Nguyễn Đức C2, Phạm H1, Nguyễn Ngọc Minh Đ, Lường Thị M, Vi Thị Q, Đỗ Xuân V1 (sinh năm 1991; HKTT: thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội), Chu Văn T (sinh năm 1993; HKTT: thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội), Hoàng Thị L (sinh năm 1999; HKTT: thôn F, xã K, huyện B, tỉnh Lào Cai), Đồng Thị T1 (sinh năm 1998; HKTT: bản P, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện nay: Trọ Đ, khu phố Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh), Vương Thị Tuyết M1 (sinh năm 2004; HKTT: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên), Đại Thị H2 (sinh năm 1997; nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện nay: Tổ H, phường Q, thành phố T). Qua kiểm tra phòng VIP 14, tổ công tác phát hiện thu giữ:

  • - Tại mặt bàn trong phòng có 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có chất tinh thể màu trắng, cân có khối lượng 0,370 gam (niêm phong ký hiệu A gửi giám định), 01 thẻ nhựa màu vàng, 01 ống hút bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng;
  • - Tại vị trí ghế ngồi trong góc phòng có 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa 01 mảnh viên nén màu tím, 01 túi nilon màu trắng chứa 01 mảnh viên nén màu tím, cân toàn bộ số viên nén màu tím có tổng khối lượng 0,729 gam (niêm phong ký hiệu B gửi giám định).

Tiền hành kiểm tra người của các nam nữ, thanh niên trong phòng, tổ công tác phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Đức C2 đang mặc có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, cân có khối lượng 2,583 gam (niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định). Cao khai nhận gói chất tinh thể màu trắng nêu trên là ma tuý Ketamine do Phạm H1 đưa cho C2 để xào cho mọi người trong phòng VIP 14 sử dụng nhưng chưa kịp xào thì bị tổ công tác của Công an thành phố T vào phòng kiểm tra nên C2 đã cất giấu gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải của mình. Tổ công tác đã tạm giữ, niêm phong gói ma tuý trên theo quy định và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức C2. Tiếp tục kiểm tra người của 11 nam, nữ thanh niên còn lại, tổ công tác không thu giữ gì liên quan đến ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 650/KL-KTHS ngày 03/5/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:

  • - Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,370 gam.
  • - Các mảnh viên nén màu tím trong bì niêm phong ký hiệu B gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA và Amphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,729 gam.
  • - Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 2,583 gam.

Các bị cáo G, C2, Đ, H1, Q, M và những người làm chứng khai nhận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 24/4/2023, sau khi uống bia tại sân tòa A4 chung cư T thuộc phường Q, thành phố T, Phạm H1 cùng Nguyễn Đức C2, Chu Văn G, Lường Thị M, Đồng Thị T1, Vi Thị Q và Vương Thị Tuyết M1 đi đến quán K1 thuộc phường C, thành phố T để hát. Trước khi đi, H1 có bảo người quen tên là N2 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) mang tới quán K1 cho H1 01 túi ma túy Ketamine. Khi đến nơi, tất cả lên phòng VIP 12 ở tầng 2 của quán. Lúc này, trong phòng hát đã có Nguyễn Ngọc Minh Đ, Đỗ Xuân V1, Chu Văn T, Hoàng Thị L, Nguyễn Văn H6 (sinh năm 1991, HKTT: thôn P, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội). Trước đó, Đ là người đứng ra trao đổi với nhân viên của quán K1 về việc thuê phòng. Nguyễn Văn H6 ở tại phòng Vip 12 một lúc rồi đi về trước. Quá trình ở phòng, Đ bảo nhân viên Nguyễn Mạnh C mang 01 đĩa sứ vào phòng, khi C cầm đĩa sứ lên thì G bảo C lấy cho G 01 thẻ nhựa, G nói với C “lấy cho anh cái thẻ để anh xào ke”, một lúc sau C mang 01 thẻ nhựa lên phòng. Vì chưa có ống hút nên H1 đã sử dụng tờ tiền 10.000 đồng để cuốn thành ống hút sử dụng ma túy Ketamine. Sau đó, H1 ra cửa quán K1 và nhặt 01 túi nilon chứa ma tuý Ketamine, do trước đó N2 và H1 đã thoả thuận là N2 sẽ cho H1 số ma túy trên và N2 để ở gần BOT bảo vệ ở cửa quán. H1 cầm gói ma tuý Ketamine lên phòng VIP 12 rồi đưa cho G để G xào cho mọi người trong phòng sử dụng, còn H1 ra ngoài nghe điện thoại.

Tại phòng, G sử dụng bật lửa hơ nóng đĩa và đổ gói ma tuý Ketamine ra mặt đĩa, dùng thẻ nhựa tán mịn ma túy. Giáp kẻ ma tuý thành 02 đường rồi tự sử dụng, đồng thời G kẻ thành nhiều đường ma tuý Ketamine rồi đưa cho C2, Đ và M1 sử dụng. Khi sử dụng hết số ma tuý Ketamine trong phòng VIP 12, G gọi cho 01 người nam giới tên N2 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) để mua ½ uốn ma tuý Ketamine và 08 viên ma tuý Kẹo với giá 9.600.000 đồng. Sau đó, G chuyển khoản cho Chu Văn T số tiền 10.000.000 đồng để nhờ T chuyển khoản cho N2 9.600.000 đồng tiền mua ma tuý. Khi nhờ T chuyển tiền, G không nói với T mục đích chuyển tiền là để trả tiền mua ma tuý. Khoảng 30 phút sau, H1 đi xuống cửa quán để đợi người mang ma tuý đến, khi đứng đợi thì có V1 và Đ cũng ra đứng nói chuyện cùng. Lúc này, có 02 thanh niên đi xe mô tô đến để giao ma túy, Đ đã nhận từ nam thanh niên ngồi sau xe mô tô 01 túi nilon bọc hộp đựng thuốc lá điện tử bên trong có chứa ma tuý Ketamine và ma túy K. Khi nhận được ma tuý, Đ cầm hộp đựng ma túy cùng V1, H1 lên phòng VIP 12. Tại phòng VIP 12, Đ đưa toàn bộ số ma tuý cho H1. H1 lấy túi chứa ma tuý Kẹo rồi bẻ 01 mảnh từ viên ma tuý Kẹo cho M1 sử dụng. Sau đó, H1 đưa túi chứa ma tuý Kẹo cho Q cầm chia cho mọi người. Q đưa cho G, Đ và T mỗi người 01 viên ma tuý Kẹo, Q đổ ra lòng bàn tay 02 mảnh ma túy K rồi đưa cho V1 sử dụng nhưng V1 không sử dụng, lúc này L ngồi cạnh V1, L đã lấy 01 mảnh ma túy Kẹo từ tay Q, còn 01 mảnh ma túy Kẹo, Q đã tự sử dụng. Số ma túy K còn thừa, Q để trên bàn trước vị trí M ngồi. M cầm gói ma tuý Kẹo, tự sử dụng 01 mảnh rồi đưa cho T1 01 mảnh ma túy K và đưa cho V1 01 viên ma tuý Kẹo để 02 người này sử dụng. Số ma tuý K còn thừa, M để ở bàn tại phòng VIP 12. Khoảng 05 phút sau, các đối tượng chuyển sang phòng VIP 14 để tiếp tục sử dụng ma tuý. Nguyễn Mạnh C là người bê đĩa sứ chứa ma tuý Ketamine, ống hút và thẻ nhựa sang phòng VIP 14.

Tại phòng VIP 14, H1 cầm đĩa sứ vào nhà vệ sinh để nướng và đổ 01 phần ma tuý Ketamine ra đĩa để xào. Khi xào xong, H1 tự kẻ và sử dụng 02 đường ma tuý Ketamine, H1 tiếp tục kẻ ma tuý Ketamine thành nhiều đường thì M1 có sử dụng 02 đường ma túy Ketamine. H1 bê đĩa chứa ma túy Ketamine cho G sử dụng 02 đường. M1 và T cũng sử dụng ma tuý Ketamine trên đĩa sứ. Sau đó, H1 có hỏi M vị trí để ma túy Kẹo thì M chỉ ma túy Kẹo để ở góc bàn, H1 tự ra lấy và sử dụng 01 mảnh ma túy Kẹo rồi H1 quay lại ngồi gần Giáp. Thấy đĩa ma tuý Ketamine ở bàn, M ra kẻ thành nhiều đường rồi bê đĩa ma túy cho H1, C2, G và Đ sử dụng nhưng những người này không dùng nên M để đĩa tại bàn. Tiếp đó, V1 đến gần M hỏi ma tuý Ketamine thì M đã bê đĩa ma túy Ketamine cho V1 sử dụng 02 đường, L sử dụng 02 đường rồi M tự sử dụng 01 đường ma túy Ketamine. Khoảng 20 phút sau, Đại Thị H2 đến quán, M xuống đón H2 lên phòng VIP 14. Lúc này, sau khi tỉnh dậy thấy đĩa sứ chứa ma tuý Ketamine để trên bàn ở dãy đối diện, Cao giã ra và dùng ống hút hít 04 đường ma tuý Ketamine đã được kẻ sẵn. Sử dụng xong, Cao kẻ ma tuý Ketamine thành nhiều đường rồi đưa đĩa ma túy cho H2 và V1 sử dụng rồi để đĩa ra bàn cho người khác sử dụng. M và T1 cũng sử dụng ma tuý Ke do C2 đã kẻ sẵn. Q tự sử dụng 02 đường ma tuý Ketamine. Lúc này, Cao thấy trên đĩa gần hết ma tuý Ketamine nên hỏi H1 “Ke để đâu?” để C2 đi xào thì H1 đưa cho C2 01 túi ma tuý Ketamine để trong túi nilon màu trắng. Cao cầm ở tay phải định mang đi xào nhưng chưa kịp xào thì cơ quan Công an vào kiểm tra, C2 đã cất giấu gói ma tuý vào túi quần phía trước bên phải. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của C2 đang mặc có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng nêu trên. Kiểm tra tại phòng, cơ quan Công an phát hiện thu giữ các đồ vật như nêu trên.

Trong quá trình các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng Vip 12 và Vip 14 của quán K1, Nguyễn Mạnh C là nhân viên được giao nhiệm vụ trông coi, quản lý, phục vụ khách là nhóm của Chu Văn G tại khu vực tầng 2 của quán. Trong suốt quá trình điều tra, Nguyễn Mạnh C đều khai nhận C biết việc nhóm của G sử dụng ma túy vì khi vào phòng Vip 12 C không thấy khách hát mà thấy mọi người nằm nghe nhạc và trong phòng có mùi khét; khi chuyển đồ cho nhóm của G từ phòng Vip 12 sang phòng Vip 14, C là người bê chiếc đĩa sứ có chứa ma túy cùng 01 thẻ nhựa, 01 ống hút; tại phòng Vip 14, C nhìn qua cửa sổ kính thấy người phụ nữ sau xác định là Lường Thị M bê đĩa chứa ma túy cho mọi người trong phòng sử dụng, khi vào phòng chỉnh điều hòa, C cũng nhìn thấy H1 dùng ống hút cuộn bằng tờ tiền sử dụng ma túy Ketamine trên đĩa sứ. Mặc dù C biết và nhìn thấy việc các đối tượng sử dụng chất ma túy trong phòng nhưng C không ngăn cản mà để mặc cho nhóm của G sử dụng ma túy.

Tại các phiên tòa Nguyễn Mạnh C thay đổi lời khai và xác định C là người trực tiếp phục vụ phòng Vip 12 và sau đó là phòng Vip 14. Tại phòng Vip 12 có 01 nam thanh niên bảo C mang cho 01 chiếc đĩa để san hoa quả, khi C mang đĩa vào phòng thì có 01 nam thanh niên bảo C “cho anh xin cái thẻ Vip để lát hát xong anh thanh toán”, C xuống tầng 1 lấy 01 thẻ Vip màu vàng mang lên phòng. Trong quá trình phục vụ tại phòng V2, V, C có 02 - 03 lần đi vào phòng Vip 12 và 02 - 03 lần đi vào phòng Vip 14 để chỉnh điều hòa và chỉnh âm thanh. Khi chỉnh điều hòa, C mở cửa phòng, đứng ở cửa phòng dùng tay chỉnh bảng điều khiển điều hòa được gắn ở trên tường trong phòng, C không nhìn khách làm gì trong phòng. Khi chỉnh âm thanh, C cùng với Nguyễn Văn D là nhân viên của quán vào phòng để chỉnh âm thanh, C chỉ soi đèn cho Duy chỉnh, C quay lưng vào khách nên không nhìn thấy gì. C không bê đồ gì từ phòng Vip 12 sang phòng Vip 14, C chỉ đứng mở cửa phòng Vip 12 cho khách ra và mở cửa phòng Vip 14 cho khách vào. C không biết việc khách sử dụng ma túy tại phòng V và Vip 14.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của các đối tượng phát hiện tại điện thoại của Phạm H1, Chu Văn G phát hiện có nhiều tin nhắn trong điện thoại liên quan đến vụ án.

Ngày 25/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Chu Văn G, Phạm H1, Nguyễn Ngọc Minh Đ, Chu Văn T, Vi Thị Q, Lường Thị M, Đỗ Xuân V1, Đồng Thị T1, Hoàng Thị L, Đại Thị H2, Vương Thị Tuyết M1 đều có kết quả dương tính với ma túy loại MDMA, MET, KET; Nguyễn Đức C2 có kết quả dương tính với ma túy loại KET.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 0,27 gam ma túy, loại Ketamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa 0,629 gam ma túy, loại MDMA hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu C1, bên trong chứa 2,483 gam ma túy, loại Ketamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
  • - Bì niêm phong ký hiệu C và C2 bên trong chứa vỏ bì niêm phong ban đầu.
  • - 01 bì niệm phong ký hiệu ĐTG bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ màu đen, số IMEI: 357275094864979, đã qua sử dụng (thu giữ của Chu Văn G).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu ĐTC bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu trắng, số IMEI: 355849082033656, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Đức C2).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu ĐTĐ bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI vỏ màu xanh, số IMEI1: 864451041026477, IMEI2: 864451043526474, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Ngọc Minh Đ).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu ĐTM bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu đen, số IMEI: 353324651763093, đã qua sử dụng (thu giữ của Lường Thị M).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu ĐTH bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu vàng, số IMEI: 359173734437991, đã qua sử dụng (thu giữ của Phạm H1).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu ĐTNV bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu hồng, số IMEI: 359487084534094, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Mạnh C).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu ĐTQ bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE trắng, số IMEI: 353895103954083, đã qua sử dụng (thu giữ của Vi Thị Q).
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu NS1 bên trong chứa 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu vàng, 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 97/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã tuyên bố bị cáo: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 256; Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Mạnh C 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/4/2023 đến ngày 03/5/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Mạnh C 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án không có kháng cáo, quyết định xử lý vật chứng, trách nhiệm chịu án phí và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02/5/2024, bị cáo Nguyễn Mạnh C kháng cáo kêu oan, xin được thả tự do.

Ngày 25/4/2024 luật sư Trần C1 là người bào chữa cho bị cáo C1 và ngày 02/5/2024 người đại diện hợp pháp cho bị cáo C1 là ông Nguyễn Xuân H đều kháng cáo toàn bộ bản án, cho rằng bản án không thể hiện khách quan, toàn diện hành vi phạm tội của các bị cáo, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, vi phạm nghiêm trọng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và cho rằng việc truy tố, xét xử đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là oan sai.

Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo đều giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ lời khai của bị cáo C tại các bản tự khai từ bút lục 393-399, lời khai tại bút lục 377, 385-368, lời khai của Chu Văn G, Nguyễn Đức C2, Phạm H1, Nguyễn Ngọc Minh Đ, Vi Thị Q, Nguyễn Xuân Tuấn A cho rằng: Việc điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C mức án 06 năm tù (Sáu năm tù) về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 97/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo Nguyễn Mạnh C không có ý kiến tranh luận gì, nhờ luật sư tranh luận thay.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, nhờ luật sư tranh luận thay.

Người bào chữa cho bị cáo là luật sư Nguyễn Thị Hằng N trình bày quan điểm bào chữa:

Việc đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên án sơ thẩm trên cơ sở căn cứ vào lời khai của các bị cáo khác mà không phân tích C có phải là người quản lý hay không; Theo tôi thì C không phải là người quản lý mà chỉ là nhân viên phục vụ khách, người quản lý chính là Vũ Ngọc Ú L1 và Tuấn A, được thể hiện rõ tại bút lục số 163, việc quy kết của cấp sơ thẩm cho rằng C là người quản lý là không có căn cứ pháp luật;

Lời khai ban đầu C nhận tội, nhưng cho dù C biết việc sử dụng ma túy nhưng không phải là người quản lý thì cũng không cấu thành tội phạm, đại diện Viện kiểm sát không căn cứ vào lời khai của Tuấn A mà lại căn cứ vào lời khai của các bị cáo khác; bị cáo C nhận tội nhưng do Điều tra viên yêu cầu chép lại và luật sư Hoàng Thị B không làm đúng trách nhiệm của luật sư, quá trình lấy lời khai ảnh hưởng đến tâm lý và nội dung khai và không phù hợp với tài liệu khác như lời khai của Tuấn A đã nhận là người quản lý. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bị cáo không phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Luật sư C thể hiện quan điểm tranh luận:

Về vi phạm pháp luật tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên như sau: Luật sư trình bày, đọc trích dẫn toàn bộ lời khai của những người tham gia tố tụng trong vụ án, trong đó có những nội dung chính như sau: Biên bản lời khai của H1 xác định cầm toàn bộ ma túy sang phòng VIP 14; Bản tự khai của G được chép lại từ bản lời khai do Điều tra viên đưa, vì thể hiện lẫn lộn cả câu hỏi của Điều tra viên; căn cứ vào lời khai của Phạm H1 và G, luật sư xác định không có quán bia như các bị cáo khai, không xác định được điểm xuất phát khi đến quán hát; trong quá trình điều tra C không có người đại diện giám hộ đúng quy định của pháp luật khi lấy lời khai; việc xác định bà H3 bí thư Đ1 phường T là không đúng quy định của pháp luật; Luật sư B không có mặt nhưng ký vào các bản cung của C, thể hiện sự vô trách nhiệm. Luật sư xác định Điều tra viên vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình điều tra, có hành vi làm lộ bí mật nhà nước trong khi thi hành công vụ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Luật sư N1: Tôi nhất trí với quan điểm của các luật sư C và luật sư N. Người quản lý phải là Nguyễn Xuân Tuấn A, bị cáo C không phải là người quản lý, do đó không cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm sau khi đối đáp ý kiến với các luật sư về việc vi phạm tố tụng của cấp sơ thẩm, về vai trò của bị cáo Nguyễn Mạnh C trong quán K1.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo bị oan và đề nghị trả tự do cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C làm trong hạn luật định được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Việc xét xử vắng mặt những người làm chứng: Tòa án tỉnh Thái Nguyên đã gửi giấy triệu tập đảm bảo, ra lệnh dẫn dải. Tuy nhiên, một số người làm chứng không có mặt ở địa phương, cơ quan Công an tỉnh không thực hiện được lệnh dẫn giải, phiên tòa hoãn nhiều lần, Hội đồng xét xử thấy cần phải xét xử để đảm bảo giải quyết vụ án đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C, Hội đồng xét xử thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại cấp sơ thẩm có đủ căn cứ để xác định Nguyễn Mạnh C là người được giao nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trông coi, quản lý và phục vụ các phòng hát tại tầng 2 của quán K1, rạng sáng ngày 25/4/2023, C là người phục vụ nhóm của Chu Văn G. Việc các đối tượng sử dụng chất ma túy trong phòng Vip 12 và Vip 14 của quán K1, thì C có nhìn thấy và biết, nhưng C đã để cho nhóm của G sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời còn giúp nhóm của G bê đĩa sứ có chứa ma túy, ống hút và thẻ nhựa từ phòng Vip 12 sang phòng Vip 14 để các đối tượng tiếp tục sử dụng chất ma túy.

Quá trình điều tra ban đầu bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau khi nhận kết luận điều tra và cáo trạng lần 1 bị cáo không có khiếu nại, không có ý kiến gì. Tuy nhiên, từ ngày 27/10/2023 bị cáo C, đại diện hợp pháp của bị cáo cho rằng mình không phạm tội, tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo C đã thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cho rằng C bị oan. Việc Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ như bản tự khai do bị cáo tự viết (Bút lục 393-399), Biên bản ghi lời khai hồi 07 giờ đến 08 giờ ngày 25/4/2023 (Bút lục 377), Biên bản hỏi cung bị can ngày 03/5/2023 (Bút lục 385-386), vật chứng thu giữ; kết luận giám định; lời khai có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa của các bị cáo khác; lời khai của người làm chứng Vương Thị Tuyết M1, Nguyễn Văn D; lời khai của người chứng kiến Nguyễn Xuân Tuấn A, và các chứng cứ tài liệu khác đề xác định: Đêm 24/4/2023, rạng sáng ngày 25/4/2023, Nguyễn Mạnh C là nhân viên của quán K1, được phân công trông coi, quản lý, phục vụ khách tại khu vực tầng 2 của quán, trong đó có phòng Vip 12, Vip 14. C là người mang đĩa sứ và thẻ nhựa lên phòng theo yêu cầu của Chu Văn G, Nguyễn Ngọc Minh Đ đây chính là các vật dụng phục vụ cho việc sử dụng ma túy của nhóm G và đã bị cơ quan công an thu giữ. Khi nhóm của G yêu cầu chuyển phòng, C cũng đã tự quyết định cho chuyển sang phòng Vip 14. Khi chuyển phòng C cũng là người giúp nhóm của G bê đĩa sứ có chứa ma túy, thẻ nhựa, ống hút sang Vip 14. Đồng thời, khi phục vụ phòng Vip 12, Vip 14 C đã đi vào phòng nhiều lần, mặc dù biết nhóm 12 người của G đang sử dụng trái phép chất ma túy nhưng C vẫn để mặc cho các đối tượng trong nhóm của G sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không kháng cáo có mặt đều khẳng định có nhìn thấy C mang đĩa, thẻ VIP lên phòng VIP 12. Khi chuyển sang phòng VIP 14, C là người bê đĩa sứ có chứa chất ma túy, thửa nhựa, ống hút và xác định C biết được việc các bị cáo sử dụng ma túy tại hai phòng nêu trên.

Chị H3 là người chứng kiến việc Cơ quan điều tra lấy lời khai ban đầu của C xác định Điều tra viên tiến hành lấy lời khai một cách khách quan, không có hành vi bức cung, dùng nhục hình hoặc hành vi gì khác đối với bị cáo C.

Do vậy, việc bị cáo C thay đổi lời khai trong quá trình giải quyết vụ án là thể hiện sự không thành khẩn, quanh co, chối tội; các căn cứ lập luận của luật sư bào chữa cho người chưa thành niên kháng cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ. Vì những sai sót trong quá trình ghi biên bản điều tra có sự nhầm lẫn, vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đã được cấp sơ thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung và các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã báo cáo, giải trình rõ những thiếu sót; đồng thời luật sư bào chữa cho rằng C không phải là người quản lý của quán để cho rằng không cấu thành tội phạm theo hướng dẫn tại Thông tư số 17 là chưa đúng hết nội hàm cấu thành cơ bản của Điều luật về tội danh đã bị xét xử đã quy định là “...có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy...”, vì thực tế các đối tượng liên quan đến tội phạm về ma túy không từ bất kể thủ đoạn tinh vi nào để nhằm che đậy hành vi phạm tội của mình, C vừa là người được giao quản lý phòng hát, vừa là người phục vụ phòng cho các đối tượng đến hát, phải chịu trách nhiệm chính việc quản lý phòng hát trong việc bê đồ, kiểm đồ, chỉnh âm thanh và kiểm kê khi khách thanh toán, bị cáo biết các đối tượng trong cùng vụ án sử dụng ma túy nhưng để mặc cho sự việc xảy ra. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm như án sơ thẩm đã xét xử.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C, cần giữ nguyên bản án Bản án hình sự sơ thẩm số: 97/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

[3]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ, áp dụng pháp luật:

  • - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C

Giữ nguyên bản án Bản án hình sự sơ thẩm số: 97/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”

3. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 256; Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Mạnh C 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/4/2023 đến ngày 03/5/2023.

4. Căn cứ Điều 347 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND thành phố Thái Nguyên,
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên,
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Trại tạm giam CAT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ích Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HSPTNCTN ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 28/2024/HSPTNCTN
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN MANH C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger