Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LƯƠNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/DS-ST

Ngày 20/09/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nịnh Thị Tám và bà Phan Thị Thu Trà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Diễm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng C1

Địa chỉ: Số A, đường L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc ngân hàng C1.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Quốc H – Chức vụ: Giám đốc ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Thái Nguyên; Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn T1 – Chức vụ: Cán bộ ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Thái Nguyên; Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

Bị đơn:

- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984 (đang mất tích)

- Ông Cao Xuân C, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ thường trú: Xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị B; Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn trình bày:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 6600000706842230 ngày 22/03/2016, bà Nguyễn Thị H1 có vay của Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 0.55%/tháng, thời hạn vay là 48 tháng, thời hạn trả nợ là ngày 10/03/2020, mục đích vay để cải tạo chè (cho vay ủy thác qua Hội Liên hiệp phụ nữ xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên).

Khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản. Gia đình chị H1 trả tiền lãi đều đặn hàng tháng. Sau đó chị H1 bỏ đi khỏi nhà không rõ đi đâu, làm gì, anh C tiếp tục trả lãi đến tháng 01 năm 2022. Đến ngày 15/06/2023, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị H1 thì anh C không tiếp tục trả lãi, Ngân hàng đôn đốc thì anh C không nhận nợ. Đến thời hạn trả nợ ngày 10/03/2020 gia đình chị H1, anh C chưa trả được khoản nợ trên do đó bị chuyển sang nợ quá hạn.

Từ tháng 3 năm 2020 Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 đã đôn đốc nhiều lần nhưng gia đình bà H1, ông C không hợp tác, không làm biên bản giải quyết nguồn vốn bà H1 đang dư nợ.

Vì vậy nay Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1 khởi kiện đối với bà H1, ông C, đề nghị Tòa án buộc bà H1, ông C trả khoản tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/03/2024 là 66.509.047 đồng (trong đó nợ gốc là 49.904.992 đồng và 16.604.055 đồng tiền lãi).

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Cao Xuân Công trình B1:

Anh là chồng của chị Nguyễn Thị H1. Anh và chị H1 kết hôn từ năm 2005. Do chung sống không hạnh phúc, chị H1 bỏ đi khỏi nhà từ tháng 8 năm 2016. Do không có tin tức nhiều năm nên năm 2023 anh có đơn đề nghị Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị H1. Tòa án nhân dân huyện Phú Lương đã tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị H1 theo quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2023/QÐST-VDS ngày 15/06/2023. Đến ngày 06/5/2024 anh và chị H1 ly hôn theo bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương.

Khoảng tháng 3 năm 2016, chị H1 có vay ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1 số tiền 50.000.000 đồng theo đồng theo hợp đồng tín dụng số 6600000706842230 ngày 22/3/2016. Khi làm hợp đồng vay tiền, chị H1 không bàn bạc với anh, cũng không nói cho anh biết. Anh không biết chị H1 đã sử dụng số tiền này vào mục đích gì. Bản thân anh không được sử dụng khoản vay này. Đến năm 2017, bà Nguyễn Thị B – Khi đó là tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay vốn xã P nhắc nhở anh đóng tiền lãi anh mới biết chị H1 có khoản nay 50.000.000 đồng này. Do từ tháng 8/2016 chị H1 bỏ đi biệt tích nên khi được ngân hàng nhắc đóng lãi, anh và mẹ đẻ anh trực tiếp đứng ra đóng tiền lãi thay cho chị H1 đến đầu năm 2022.

Nay Ngân hàng chính sách xã hội khởi kiện anh và chị H1. Anh không

đồng ý với yêu cầu khởi kiện. Anh xác định khoản vay 50.000.000 đồng này là nợ riêng của chị H1, khi chị H1 vay anh không được biết, không được ký vào hồ sơ, giấy tờ vay cũng không được sử dụng nên không có trách nhiệm phải trả số tiền này. Anh xác định chữ ký trong hồ sơ không phải của anh.

Người làm chứng là bà Nguyễn Thị B cho biết: Bà tham gia công tác tại Tổ tiết kiệm và vay vốn xã P với vai trò tổ trưởng. Theo quy định của khi công dân có nhu cầu vay vốn phải làm hồ sơ vay vốn. Hồ sơ phải có đầy đủ các giấy tờ theo quy định và bao gồm chữ ký của người vay vốn, trưởng xóm, tổ trưởng, tổ phó tổ vay vốn, sau đó mới được trình lên UBND xã để phê duyệt. Sau khi được phê duyệt, hồ sơ mới được gửi đến ngân hàng C1 để giải ngân. Khoảng tháng 3 năm 2016, Tổ tiết kiệm và vay vốn xã P nhận được hồ sơ đề nghị vay vốn của chị Nguyễn Thị H1 và anh Cao Xuân C, số tiền vay là 50.000.000 đồng, mục đích vay để cải tạo chè. Hồ sơ có đầy đủ chữ ký của anh C và chị H1. Số tiền vay được giải ngân vào ngày 22/3/2016, khi đó chị H1 và anh C cùng đến nhận tiền.

Trong thời gian vay vốn, hàng tháng gia đình anh C, chị H1 trả lãi và đóng tiền tiết kiệm đầy đủ, đều đặn. Anh C là người trực tiếp đến nộp tiền cho bà tại nhà văn hóa xóm P (nay là xóm P 3). Sau đó một thời gian, anh C chị H1 đi làm ăn xa nên cho bà thu hoạch bãi chè của anh chị và nhờ bà đóng lãi giúp đối với khoản vay này. Bà sử dụng bãi chè và đóng lãi cho vợ chồng anh C được khoảng 3 năm thì không thu hoạch chè nữa đồng thời dừng việc đóng tiền lãi cho anh C chị H1. Sau đó có mẹ đẻ của anh C là bà Nguyễn Thị L và người nhà chị H1 trực tiếp đứng ra trả lãi đến tháng 6/2023 thì không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi nữa. Khoản nợ đã quá hạn, tổ tiết kiệm và vay vốn đã đôn đốc nhiều lần nhưng gia đình anh C chị H1 vẫn không thực hiện.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Cao Xuân C để anh C thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, anh C cố tình vắng mặt, không hòa giải được. Do vậy, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, anh Cao Xuân C vắng mặt. Nguyên đơn là là Ngân hàng C1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N hành chính sách xã hội, buộc anh Cao Xuân C và chị Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử. Về án phí: bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp là hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng C1 và anh Cao Xuân C, chị Nguyễn Thị H1. Bị đơn cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên tòa hai bị đơn là chị H1 và anh C đều vắng mặt. Xét thấy chị Nguyễn Thị H1 đã bị tuyên bố mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2023/QÐST-VDS ngày 15/06/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương. Anh Cao Xuân C cố tình không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh C và chị H1.

[2] Xét yêu cầu của Ngân hàng C1 thấy rằng:

Anh Cao Xuân C và chị Nguyễn Thị H1 kết hôn năm 2005, chung sống với nhau đến năm 2016 thì chị H1 bỏ đi biệt tích. Vợ chồng anh C, chị H1 đã ly hôn theo bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương nhưng chưa giải quyết tài sản chung và nợ chung.

Theo Hợp đồng tín dụng số 6600000706842230 ngày 22/03/2016, bà Nguyễn Thị H1 có vay của Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 0.55%/tháng, thời hạn vay là 48 tháng, thời hạn trả nợ là ngày 10/03/2020, mục đích vay để cải tạo chè (cho vay ủy thác qua Hội Liên hiệp phụ nữ xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên). Trên sổ vay vốn có chữ ký của anh Cao Xuân C tại phần người thừa kế.

Anh C cho rằng khoản nợ trên là của riêng chị H1, anh không biết là không có căn cứ chấp nhận. Bởi anh C có trực tiếp tham gia trả tiền lãi cho bà B nhiều lần, anh C còn đồng ý cho bà B canh tác thu hoạch bãi chè của gia đình để bà B trả lãi thay vợ chồng anh. Anh C cho rằng chữ ký tại mục người thừa kế trên sổ vay vốn không phải của mình nhưng không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết. Tòa án tiến hành tống đạt Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ cho anh Cao Xuân C nhưng anh C không thực hiện quyền cung cấp chứng cứ để Tòa án xem xét. Theo tài liệu chứng cứ do ngân hàng chính sách huyện C1 cung cấp, khoản nợ lãi được anh C đóng đến ngày 10/01/2022, khi đó chị H1 đã biệt tích nhiều năm (từ tháng 8 năm 2016).

Như vậy hợp đồng tín dụng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân, mục đích vay để phục vụ nhu cầu sản xuất chung của gia đình, có chữ ký của anh C tại phần người thừa kế trên sổ vay vốn. Do đó khoản nợ trên được xác định là nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh C và chị H1. Tính đến ngày 20/9/2024, nợ gốc là 49.904.992 đồng, tiền nợ lãi là 18.876.882 đồng. Do khoản nợ đã quá hạn nên Ngân hàng chính sách khởi kiện là có căn cứ, về nguyên tắc cần buộc anh C và chị H1 có trách nhiệm liên đới, mỗi người có trách nhiệm trả ½ khoản nợ trên. Tuy nhiên chị H1 đã bị tuyên bố mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự

số 01/2023/QÐST-VDS ngày 15/06/2023. Trong quá trình giải quyết ly hôn, tài sản chung và nợ chung của anh C và chị H1 chưa được giải quyết hiện vẫn do anh C đang quản lý sử dụng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 66, 67, 69 của Bộ luật dân sự 2015 buộc anh C có trách nhiệm trả toàn bộ khoản nợ gốc và lãi hợp đồng tín dụng cho ngân hàng chính sách xã hội huyện C1. Phần anh C đã trả nợ thay cho chị H1 trong vụ án này anh C có quyền đề nghị xem xét giải quyết trong vụ án khác (phân chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng sau ly hôn; vụ việc khác liên quan đến tài sản của người mất tích hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật).

[5] Về án phí: Trong vụ án này, anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 66, 67, 69 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng; Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 của BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1: Buộc anh Cao Xuân C phải trả cho ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền gốc là 49.904.992 đồng, tiền lãi tính đến ngày 20/9/2024 là 18.876.882 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn là 14.346.428 đồng, nợ lãi quá hạn là 4.533.454 đồng).

    Anh Cao Xuân C còn phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành án xong.

  2. Án phí: Anh Cao Xuân C phải chịu 3.439.100 đồng (ba triệu, bốn trăm ba mươi chín nghìn, một trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
  3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Lương;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND xã Phú Đô;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger