TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 14/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Tuấn
- Bà Dương Thị Tú Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Út Em – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
Lê Chí N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/8/1990; tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con Lê Văn Đ, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 00 ngày 18 tháng 6 năm 2024, bị cáo Lê Chí N đi từ nhà của bị cáo thuộc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu đi đến khu vực cầu treo gần cầu S (còn gọi là Cầu Cái H) thuộc ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu bằng phương tiện xe mô tô chở khách để tìm người bán chất ma tuý để mua về sử dụng. Khi đến khu vực trên bị cáo N ngồi chờ và có một người đàn ông đeo khẩu trang điều khiển phương tiện xe mô tô (bị cáo N không nhớ rõ nhãn hiệu, biển kiểm soát xe và bị cáo N cũng không biết tên, địa chỉ của người đàn ông này) dừng lại bán cho bị cáo Lê Chí N 02 (Hai) bịch nylon bên trong có chứa chất ma tuý tổng hợp dạng ma túy đá, bị cáo Lê Chí N đưa cho người đàn ông này số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) và sau đó người đàn ông này cho thêm bị cáo Lê Chí N 01 (Một) bịch ma tuý tổng hợp dạng ma túy đá và 01 cái ống thuỷ tinh về để sử dụng. Sau khi mua được số ma tuý tổng hợp dạng ma túy đá trên, bị cáo Lê Chí N bỏ số ma tuý đá trên vào túi quần và mang tất cả 03 (Ba) bịch ma tuý tổng hợp là ma túy đá trên đi xe mô tô chở khách về nhà của bị cáo Lê Chí N cất giữ. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Lê Chí N lấy trong túi quần đang mặc ra 03 (Ba) bịch ma tuý đá trên và lấy ra bộ dụng cụ tự chế (bao gồm bình tự chế, ống thuỷ tinh (nỏ), ống hút và bật lửa) để trên sàn nhà, gần chổ bị cáo Lê Chí N ngồi để sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo Lê Chí N lấy ra 01 (Một) bịch ma tuý để hết chất ma tuý trong bịch vào cái ống thuỷ tinh (Nỏ) cấm vào bộ dụng cụ, còn lại 02 (Hai) bịch nilon màu trắng, có viền nẹp kẹp dính bên trong có chứa ma túy bị cáo Lê Chí N để dưới sàn cặp chổ bị cáo Lê Chí N ngồi, sau đó dùng bật lửa đốt hút vào cơ thể được 01 (Một) hơi. Bị cáo Lê Chí N ngồi nghỉ cho đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, định sử dụng trái phép chất ma tuý tiếp thì lực lượng Công an huyện P kết hợp với Công an xã H vào kiểm tra phát hiện và tiến hành bắt quả tang lập biên bản và thu giữ nhiều tang vật có liên quan.
Tại bản Kết luận giám định số: 61/KL-KTHS ngày 26/6/2024 Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 01 ống thủy tinh và 02 bịch nilon (ký hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,32635 gam.
- Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo Lê Chí N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Chí N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Sau khi phân tích chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Chí N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điểu tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Chí N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, vào khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại nhà của bị cáo Lê Chí N thuộc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Công an huyện P kết hợp với Công an xã H tiến hành bắt quả tang bị cáo Lê Chí N đang tàng trữ trái phép chất ma tuý tại nhà, thu giữ 02 bịch nylon màu trắng cùng nhiều tang vật khác. Qua giám định kết luận, chất rắn màu trắng bên trong 01 (Một) ống thủy tinh và 02 (Hai) bịch nilon là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,32635 gam.
[3] Xét thấy bị cáo Lê Chí N nhận thức được rằng ma tuý là một loại chất cấm tàng trữ, thế nhưng bị cáo đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine, có trọng lượng là 0,32635 gam. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi này của bị cáo đủ yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Chí N là nghiêm trọng. Do đó, cần phải được xử phạt nghiêm theo tội danh và hình phạt mà điều luật đã quy định. Đồng thời, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[5] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên dược hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) phong bì niêm phong ghi: 61/GĐMT-2024, chữ ký, họ, chữ đệm, tên của Nguyễn Quốc K, 04 (Bốn) dấu mộc tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (Một) cái keo nhựa màu trắng, nắp keo màu đỏ có đục 02 (Hai) lỗ, kích thước keo là 06 X 10,5 cm; 01 (Một) cái ống hút màu vàng; 01 (Một) bịch nylon màu trắng có viền nẹp kẹp dính màu xanh, bên trong không có chứa chất gì; 01 (Một) ống hút màu vàng dài 03 cm, một đầu cắt bằng, một đầu cắt nhọn; 01 (Một) cái bật lửa màu xanh đây là công cụ, phương tiện phạm tội và cũng không có giá trị nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với người người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo Lê Chí N, quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý, khi nào điều tra có căn cứ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy dịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Chí N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Lê Chí N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Chí N 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 18/6/2024. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong ghi: 61/GĐMT-2024, chữ ký, họ, chữ đệm, tên của Nguyễn Quốc K, 04 (Bốn) dấu mộc tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (Một) cái keo nhựa màu trắng, nắp keo màu đỏ có đục 02 (Hai) lỗ, kích thước keo là 06 X 10,5 cm; 01 (Một) cái ống hút màu vàng; 01 (Một) bịch nylon màu trắng có viền nẹp kẹp dính màu xanh, bên trong không có chứa chất gì; 01 (Một) ống hút màu vàng dài 03 cm, một đầu cắt bằng, một đầu cắt nhọn; 01 (Một) cái bật lửa màu xanh.
(Các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long dạng quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/8/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Chí N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm hình sự công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Đẹp |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử bị cáo 01 (một) năm tù
