Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/DSST

Ngày: 04-9-2024

V/v: "T/c chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo

- Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Nguyễn Thị Hạnh

2.Ông Bùi Tấn Khoa

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Mai Thị Chiêm Vân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 157/ 2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vòng Cắm G, sinh năm 1948 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số F, đường L, thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận

Bị đơn: Ông Vòng Lỷ P, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/Bà Vòng S, sinh năm 1970 (vắng mặt)

2/Ông Vòng M, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Hải Thủy, xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận

3/Ông Vòng Cún Nhộc, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 44, đường Quang Trung, thôn Hải Lạc, xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận

4/Bà Vòng Lộc Mùi, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn An Lạc, xã Bình An, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận

5/Ông Vòng Say Khỳ, sinh năm 1978 (vắng mặt)

6/Ông Vòng S, sinh năm 1982 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Trần Thị H, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

(Theo giấy uỷ quyền ngày 16/11/2023)

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà M, bà M1, ông N, ông N1: Ông Vòng Say K, sinh năm 1978 (có đơn xin xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận

(Theo giấy uỷ quyền ngày 12/01/2024)

NỘI DUNG VỤ ÁN

+Theo đơn khởi kiện cũng như quá trình tố tụng nguyên đơn ông Vòng Cắm G và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: ông Vòng Cắm G và bà S Sau L là vợ chồng, trong thời gian chung sống vợ chồng ông G và bà L có những người con như sau: Vòng Lỷ Pẩu, sinh năm 1967,Vòng Si M, sinh năm 1970, Vòng Mộc N, sinh năm 1972,Vòng Cún N1, sinh năm 1973, Vòng Lộc M1, sinh năm 1975, Vòng Say K, sinh năm 1978,Vòng Say N2, sinh năm 1982.Hiện nay các con đều trưởng thành có gia đình riêng đều sinh sống tại huyện B, tỉnh Bình Thuận.Trong quá trình chung sống vợ chồng ông và bà S Sau Lìn tạo lập tài sản chung là thửa đất 273, tờ bản đồ số 7 tọa lạc thôn H, xã H, huyện B,tỉnh Bình Thuận.Trên đất có căn nhà cấp 4 xây gắn liền trên diện tích đất 89m², đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 729104 do UBND huyện B cấp cho ông V Cắm Giểng và bà S Sau Lìn ngày 11/7/2014, nguồn gốc đất và nhà do vợ chồng tạo lập.

Năm 2018 bà L chết không để lại di chúc, căn nhà hiện nay ông và con út là Vòng Say Nịp ở là tài sản chung giữa ông với bà L.Hiện nay ông đã già nên muốn phân chia tài sản thừa kế của vợ ông là bà S Sau Lìn đối với căn nhà chung của vợ chồng xây dựng gắn liển trên thửa đất nói trên cho các con, phần tài sản của ông, ông có quyền quyết định, các con đã đồng ý nhưng có người con trai là V Lỷ Pẩu không đồng ý ký cho ông làm thủ tục phân chia thừa kế phần di sản của bà L trong khối tài sản chung vợ chồng với ông.Vì vậy, ông G yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật của bà S Sau Lìn cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất của bà L theo quy định của pháp luật gồm chồng và các con của bà S Sau Lìn, kỷ phần của ông G được hưởng thừa kế của vợ, ông không nhận mà cho con là V Say Nịp nhận.

Đối với ½ tài sản còn lại của ông trong khối tài sản chung vợ chồng với bà S sau L, ông G cho ông N2 nhận, không yêu cầu anh N2 hoàn lại tiền nhận tài sản của ông.

Đối với kỷ phần của các con được hưởng di sản của bà L trong khối tài sản chung với ông thì các con tự quyết định, ông không ý kiến gì.

Giá trị phần di sản của bà S Sau Lìn là ½ giá trị căn nhà và đất thửa 273, tờ bản đồ số 7 thuộc giấy chứng nhận số BS 729104 do UBND huyện B cấp cho ông V Cắm Giểng và bà S Sau Lìn ngày 11/7/2024 là 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

*Bị đơn Vòng Lỷ Pẩu trình bày tại bản tự khai ngày 15/12/2023 gởi qua đườngbưu điện ngày 06/12/2023 như sau: Mẹ ông mất ông chưa về lại ngôi nhà tại số F, đường L, thôn H, xã H ngày nào, ông có 6 người em và chưa có lời nào ăn hiếp các em để tranh giành tài sản của mẹ. Trước ngày 11/7/2014 ngôi nhà này do mẹ ông là S Sau L và cha ông là Vòng Cắm Giểng đứng tên. Sau khi mẹ chết ông không biết ai đứng tên.Cha ông đi đi về về hơn 40 năm nay, căn nhà này là nơi sinh ra ông và ông lớn lên đến sau khi có gia đình tạo lập cuộc sống riêng.Nếu chia căn nhà thì ông có còn được về nhà không và yêu cầu cha cho biết nhà hiện nay ai đứng tên và không đưa ra ý kiến gì về khởi kiện của cha ông là Vòng Cắm Giểng chia di sản thừa kế theo pháp luật của bà S Sau Lìn đối với ½ căn nhà và đất tại số F, L, thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

*Trình bày của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vòng Si Múi,, Vòng Mộc N, Vòng Cún N1, Vòng Lộc M1, Vòng Say K do ông K1 làm đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình giải quyết như sau: Ông K thống nhất trình bày của nguyên đơn về di sản của bà S Sau Lìn là ½ căn nhà xây cấp 4 gắn liền trên thửa đất số 273, tờ bản đồ số 7 tọa lạc thôn H, xã H huyện B tỉnh Bình Thuận, diện tích 89m², đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 729104 do UBND huyện B cấp cho ông V Cắm Giếng và bà S Sau Lìn ngày 11/7/2024, nguồn gốc đất và nhà do cha mẹ ông là Vòng Cắm G và S Sau Lìn tạo lập. Mẹ ông chết không để lại di chúc, bà L có 7 người con như ông G trình bày là đúng, hàng thừa kế thứ nhất của bà S Sau L là 7 người con và chồng là ông Vòng Cắm G.Bà L chết không để lại di chúc nên thống nhất chia di sản thừa kế của bà L cho 7 anh chị em là con của bà L và chồng bà L là ông G.

Giá trị di sản thừa kế của bà L thống nhất theo giá ông G đưa ra ½ căn nhà gắn liền với đất là 250.000.000 đồng. Ông N2 và đại diện của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vòng Si Múi, Vòng Mộc N, Vòng Cún N1, Vòng Lộc M1 thống nhất kỷ phần mỗi người được nhận di sản thừa kế của bà S Sau Lìn cho ông V Say Nịp nhận, không yêu cầu anh N2 hoàn lại tiền theo giá trị được nhận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vòng Say Nịp trình bày: Thống nhất theo trình bày của nguyên đơn và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về di sản thừa kế của bà S Sau Lìn cũng như về hàng thừa kế của bà L và thống nhất về giá trị di sản của bà S Sau Lìn.

Đối với trình bày của ông Vòng Cắm G và những lời trình bày của anh chị ông do đại diện là Vòng Say Khỳ cho ông N2 nhận phần di sản của mẹ ông, không yêu cầu ông hoàn lại tiền ông đồng ý.

Đối với phần tài sản chung của cha ông Vòng C là ½ giá trị căn nhà F L, thôn H xã H cha cho ông được nhận ½ căn nhà được xây trên thửa đất 273, tờ bản đồ số 7 ông đồng ý nhận.

Về kỷ phần ông Vòng Cắm G được hưởng di sản của bà S Sau Lìn theo giá trị ½ của căn nhà xây gắn liền thửa đất là trị giá 250.000.000 đồng được chia cho 8 người, phần ông G được hưởng 31.250.000 đồng, ông V Say Nịp đồng ý nhận toàn bộ căn nhà xây trên thửa đất 273, tờ bản đồ số 7 thuộc giấy chứng nhận BS 729104, hoàn lại ông G 31.250.000 đồng.

*Nhà và đất được thẩm định và định giá ngày 14/3/2024 và bản vẽ thẩm định của Chi nhánh văn phòng Đ như sau: Tài sản tranh chấp là thửa đất số 273, tờ bản đồ số 7 thuộc giấy chứng nhận BS 729104 diện tích đất 89m², có giá trị là 222.144.000 đồng.Trên đất có tài sản là một căn nhà cấp 3C diện tích 40,8m², diện tích sàn 81,4m², giá trị còn lại 57.120.000 đồng, một nhà tạm diện tích 36,8m² giá trị còn lại là 7.360.000 đồng, một mái tol khung sắt tiền chế diện tích 22m² trị giá là 7.216.000 đồng. Tổng giá trị căn nhà và đất là 293.838.000 (Hai trăm chín mươi ba triệu, tám trăm ba mươi tám ngàn) đồng.

Đương sự ông G và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đưa ra giá trị đất và nhà theo giá thị trường tham khảo căn nhà và đất trị giá toàn bộ là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Bị đơn không tham gia thẩm định và định giá, không đưa ra ý kiến gì về giá.

Tọa lạc nhà và đất thuộc thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

*Chi phí tố tụng: Tiền chi phí thẩm định và định giá là 4.199.000 đồng nguyên đơn ông Vòng Cắm G yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoàn lại theo quy định pháp luật.

*Về án phí: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vòng Say N2 và đại diện nguyên đơn ông Vòng Cắm G và đại diện những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vòng Si Múi, Vòng Mộc N, Vòng Cún N1, Vòng Lộc M1 và Vòng Say Khỳ thỏa thuận ông N2 chịu nộp toàn bộ án phí đối với phần di sản được nhận.

Đối với bị đơn phải chịu nộp án phí dân sự theo kỷ phần được hưởng theo quy định pháp luật.

*Tại phiên tòa: Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến về khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn có mặt tại phiên tòa nhưng gây rối trật tự tại phiên tòa sau đó bỏ về không tiếp tục tham gia phiên tòa.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát:

+ Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự quy định về thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án, trình tự thủ tục hòa giải và thời hạn chuyển giao hồ sơ sang Viện kiểm sát.

+Về tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+Về chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của bị đơn và vi phạm về nội quy phiên tòa, tự bỏ về là không thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của đương sự.

+Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 228 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 213; Điều 219; Điều 500; Điều 612; Điều 649; Điều 650; Điều 651; Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 33; Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 167 Luật đất đai năm 2013 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Vòng Cắm Giểng về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bà S Sau Lìn trong ½ khối tài sản chung vợ chồng với ông V Cắm Giểng là thửa đất 273, tờ bản đồ 7 tọa lạc thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận trị giá 222.144.000, trên đất có tài sản là căn nhà 3C trị giá 57.120.000 đồng, 1 nhà tạm trị giá 7.360.000 đồng và 1 mái che khung sắt tiền chế trị giá 7.216.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 293.840.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thỏa thuận giá tài sản đất gắn liền nhà là 500.000.000 đồng cao hơn giá Hội đồng thẩm định, bị đơn không có ý kiến nên áp dụng giá thỏa thuận 500.000.0000 đồng, chia di sản thừa kế theo pháp luật của bà S Sau Lìn trị giá 250.000.000 đồng cho hàng thừa kế thứ nhất của bà S Sau Lìn gồm: Vòng C,Vòng Lỷ P, Vòng Si M, Vòng Mộc N,Vòng Lộc M1, Vòng Say K, Vòng Cún N1, Vòng Say N2. Ông P được nhận di sản theo giá trị là 31.250.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vòng Cắm G, Vòng Si M, Vòng Mộc N,Vòng Lộc M1, Vòng Say K giao ông V Say Nịp hưởng phần giá trị di sản của bà S Sau Lìn.

Chi phí thẩm định và định giá và án phí các đương sự chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:Nguyên đơn ông Vòng Cắm G có đơn khởi kiện tranh chấp về chia di sản thừa kế nên Tòa án thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Tại phiên tòa bị đơn có mặt nhưng không tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa và tự bỏ về, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vòng Say K đại diện của Vòng Si M, Vòng Mộc N,Vòng Lộc M1, Vòng Say K vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt và nguyê đơn vắng mặt nhưng có người đại diện có mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Xét về tài sản chung giữa bà S Sau Lìn với ông Vòng Cắm G: Căn nhà cấp 3C xây gắn liền trên thửa đất số 273, tờ bản đồ số 7 tọa lạc thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận, diện tích đất 89m², đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 729104 do UBND huyện B cấp cho ông V Cắm Giểng và bà S Sau Lìn ngày 11/7/2024, nguồn gốc đất và nhà do cha mẹ ông là Vòng Cắm G và S Sau Lìn tạo lập.Khối tài sản chung vợ chồng, trị giá là 500.000.000 đồng (theo biên bản định giá và thẩm định ngày 14/3/2024). Căn cứ Điều 33 và Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 213; Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015 bà S Sau L và ông V Cắm Giếng mỗi người được hưởng ½ tài sản. Phần di sản của bà S Sau Lìn là trị giá ½ căn nhà và đất trong khối tài sản chung vợ chồng với ông G.Phần tài sản ông G là ½ căn nhà và đất này nhưng ông G tự nguyện giao cho ông V Say Nịp được nhận toàn bộ không yêu cầu ông N2 hoàn lại tiền giá trị tài sản của ông G.Đây là thỏa thuận tự nguyện hợp pháp phù hợp Điều 167 Luật đất đai năm 2013 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]Xét về di sản của bà S Sau Lìn:bà S Sau Lìn chết ngày13/4/2018 (theo trích lục khai tử sô 284/TLKT-BS ngày 19/7/2018) không để lại di chúc, điều này các đương sự đều thừa nhận, đây là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên di sản thừa kế của bà L là tài sản chung vợ chồng với ông G gồm 1căn nhà cấp 3C xây trên thửa đất số 273, tờ bản đồ số 7 tọa lạc thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận, diện tích đất 89m² đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 729104 do UBND huyện B cấp cho ông V Cắm Giểng và bà S Sau Lìn ngày 11/7/2024, di sản của bà L đưa ra chia là trị giá ½ tài sản chung vợ chồng giữa bà L với ông G.Các đương sự nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã yêu cầu định giá là 293.838.000 (Hai trăm chín mươi ba triệu, tám trăm ba mươi tám ngàn) đồng. Tuy nhiên, các đương sự thống nhất thỏa thuận giá là 500.000.000 đồng, bị đơn không có ý kiến gì về giá các đương sự đưa ra nên Hội đồng ghi nhận giá đương sự thỏa thuận.Như vậy, căn cứ Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 di sản của bà L Hội đồng xét xử xác định trị giá là 250.000.000 đồng.

[4] Xét hàng thừa kế được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của bà S Sau Lìn như sau: Bà L chết ngày 13/4/2018, bà S Sau L có cha là cụ Sú Gìn S1, sinh năm 1914 (đã chết ngày 21/6/2012), mẹ là cụ Thông Cóng D, sinh năm 1915(đã chết 29/6/2017), chồng là ông Vòng Cắm G, sinh năm 1948 và 07 người con là Vòng Lỷ P, sinh năm 1967, Vòng Si M, sinh năm 1970, Vòng Mộc N, sinh năm 1972, Vòng Cún N1, sinh năm 1973, Vòng Lộc M1, sinh năm 1975, Vòng Say K, sinh năm 1978, Vòng Say N2, sinh năm 1982 nên di sản của bà L được chia cho chồng và con của bà L theo quy định tại Điều 611; Điều 613 và Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015.

[5]Cách phân chia di sản thừa kế của bà S Sau Lìn: Di sản thừa kế của bà S Sau Lìn là ½ khối tài sản trong tài sản chung vợ chồng với ông V Cắm Giểng trị giá 250.000.000 đồng. Bà L chết, căn nhà hiện nay ông G và ông N2 đang sinh sống trong căn nhà này, ông G và các con bà L là bà M, ông N, bà N1, bà M1, ông K đều đồng ý cho ông N2 nhận di sản được hưởng của bà L, không yêu cầu hoàn lại giá trị được hưởng. Ngoài ra, phần tài sản chung của ông G hiện nay ông G giao cho ông N2 nhận và không yêu cầu hoàn lại giá trị tài sản.Như vậy,căn cứ Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015 kỷ phần ông Vòng Lỷ P được hưởng di sản của bà L là 1/8 của khối di sản trị giá 250.000.000 đồng.Do kỷ phần ông P được nhận di sản của bà L chỉ được 1/8 trong ½ khối tài sản chung ông G là căn Nhà 3C,diện tích 40,8m², diện tích sàn 81,4m²,1 nhà tạm diện tích 36,8m², 01 mái tol khung sắt tiền chế diện tích 22m² xây trên diện tích đất 89m² thuộc thửa đất 273, tờ bản đồ số 7 đã có giấy chứng nhận BS 729104 do UBND huyện B cấp quyền sử dụng cho ông Vòng Cắm G và bà S Sau Lìn.Vì vậy, di sản thừa kế của bà L được chia ông P được nhận không thể chia được bằng hiện vật nên Hội đồng xét xử giao ông N2 nhận toàn toàn bộ tài sản chung của ông G và nhận toàn bộ di sản của bà L là căn nhà, tài sản gắn liền thửa đất 273, tờ bản đồ số 7 thôn H, xã H, huyện B theo biên bản thẩm định ngày 14/3/2024.Ông N2 hoàn lại kỷ phần được hưởng thừa kế của bà L cho ông P tương ứng 1/8 của 250.000.000 đồng.

[6]Về chi phí định giá và thẩm định: Chi phí định giá và thẩm định tại chổ là 4.199.000 (Bốn triệu một trăm chín mươi chín nghìn) đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận và những người được hưởng di sản là bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu nộp theo quy định tại các Điều 157, Điều 158, Điều 165 và Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự.Nguyên đơn ông G đã nộp tạm ứng đủ 4.199.000 đồng nên bị đơn ông P và bà M, bà M1, ông N, ông N1, ông K, ông N2 mỗi người phải trả lại cho ông G số tiền 524.875 đồng nhưng ông N2 đồng ý chịu nộp hoàn lại toàn bộ cho ông G thay cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 3.674.125 đồng.Ông Vòng Lỷ P phải nộp hoàn lại ông G 524.875 đồng.

[7]Về án phí: Do các đương sự không xác định được phần tài sản chung và di sản thừa kế của đương sự được hưởng và yêu cầu Tòa án giải quyết chia nên các đương sự phải chịu án phí tương ứng phần được nhận.Tuy nhiên, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vòng Say N2 tự nguyện chịu nộp toàn bộ án phí đối với phần tài sản, di sản được hưởng nên ông N2, ông P phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà M, bà M1, ông N, ông N1, ông K không phải nộp án phí theo quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 184; Điều 227 và Điều 228 Điều 157; Điều 165 và Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 213; Điều 219; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 649; Điều 650; Điều 651; Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Điều 33; Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình.

- Điều 167 Luật đất đai năm 2013.

- Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Cắm G về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bà S Sau Lìn là ½ trị giá căn nhà cấp 3C diện tích 40,8m², diện tích sàn 81,4m², 1 nhà tạm diện tích 36,8m², 1 mái tol khung sắt tiền chế diện tích 22m² và diện tích đất 89m² thuộc thửa số 273, tờ bản đồ số 7, tọa lạc thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng số BS 729104 do UBND huyện B cấp ngày 11/7/2014 cho bà S Sau L và ông V Cắm Giểng là 250.000.000 đồng cho ông Vòng Cắm G, sinh năm 1948, ông Vòng Lỷ P, sinh năm 1967, bà Vòng Si M, sinh năm 1970,ông Vòng Mộc N, sinh năm 1972, ông Vòng Cún N1, sinh năm 1973,bà Vòng Lộc M1, sinh năm 1975, ông Vòng Say K, sinh năm 1978, ông Vòng Say N2, sinh năm 1982.

- Chấp nhận thỏa thuận của ông Vòng Cắm G, Vòng Si M,Vòng Mộc N,Vòng Cún N1,Vòng Lộc M1, Vòng Say K giao ông Vòng Say N2 được nhận, sử dụng và sở hữu toàn bộ căn nhà cấp 3C diện tích 40,8m2, diện tích sàn 81,4m², 1 nhà tạm diện tích 36,8m², 1 mái tol khung sắt tiền chế diện tích 22m² được xây dựng gắn liền thửa số 273, tờ bản đồ số 7 diện tích đất 89m² thuộc giấy chứng nhận BS 729104 do UBND huyện B cấp ngày 11/7/2014 tên người sử dụng là bà S Sau L và ông Vòng Cắm G.(có bản vẽ thẩm định của Chi nhánh văn phòng Đ ngày 30/5/2024 kèm theo).

- Ông Vòng Say N2 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông V Lỷ Pẩu kỷ phần được hưởng di sản thừa kế 31.250.000(Ba mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.Ông Vòng Say N2 không hoàn lại tiền được nhận tài sản, di sản cho Vòng Cắm G, Vòng Si M, Vòng Mộc N,Vòng Cún N1, Vòng Lộc M1, Vòng Say K. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền tài sản được giao nhận theo quy định của pháp luật.

- Ông Vòng Lỷ P phải hoàn lại cho ông V Cắm Giểng số tiền 524.875 (Năm trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm bảy mươi lăm) đồng, ông V Say Nịp hoàn lại cho ông V Cắm Giểng 3.674.125 (Ba triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn một trăm hai mươi lăm) đồng tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải thi hành xong số tiền, nếu người có nghĩa vụ phải thi hành chậm thực hiện nghĩa vụ phải chịu lãi suất theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Ông Vòng Say N2 phải nộp 23.437.500(Hai mươi ba triệu bốn trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Vòng Lỷ P phải nộp 1.562.500(Một triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

-Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

- Các đương sự

- VKS Bắc Bình

- THA Bắc Bình

- Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DSST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 28/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Vòng Cắm Giẻng 1/2 khối tài sản chung vợ chồng được chia di sản thừa kế theo pháp luật cho chồng và con của bà Sú Sau Lìn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger