Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 20/8/2024.

“V/v: Ly hôn giữa chị Liễu và anh Thùy”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Hoàng Thị Quế .
  • 2. Ông Phan Đình Toàn.

-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thuỳ - Kiểm sát viên (KSV).

Trong ngày 20/8/2024, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 31/5/2024 về tranh chấp: “Kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Chị L và anh T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị L và anh Vũ Văn T qua thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn (ĐKKH) tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/2011.

Quá trình chung sống, anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L trình bày là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, khác nhau trong suy nghĩ, trong cách sống của mỗi người, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, nặng nề, không hạnh phúc; vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi bới xúc phạm nhau dẫn đến không tôn trọng nhau. Chị đã từng hai lần nộp đơn ra Tòa án yêu cầu ly hôn với anh T nhưng vì con cái nên chị đã rút yêu cầu khởi kiện về đoàn tụ gia đình nhưng vẫn không thể hàn gắn được. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn với nhau.

Về phía anh T, anh cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L vì anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng.

2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Vũ Hồ Gia N, sinh ngày 08/9/2011 và Vũ Nguyên K, sinh ngày 12/5/2014. Sau khi ly hôn, chị L đề nghị giao cháu N cho chị và giao cháu K cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, có khả năng lao động; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Anh T cũng đồng ý với đề nghị của chị L về giải quyết nuôi con chung khi ly hôn.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên chị L và anh T cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm:

  • 01 Trích lục kết hôn mang tên Hồ Thị L và Vũ văn T (bản sao);
  • 01 Căn cước công dân mang tên Hồ Thị L (bản photo);
  • 02 Giấy khai sinh mang tên Vũ Hồ Gia N và Vũ Nguyên K (đều là bản sao);

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Chị L và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có ĐKKH tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/2011; anh chị có 02 con chung tên Vũ Hồ Gia N, sinh ngày 08/9/2011 và Vũ Nguyên K, sinh ngày 12/5/2014. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do chị L giao nộp là Trích lục kết hôn mang tên Hồ Thị L và Vũ Văn T (bản sao), 02 Giấy khai sinh mang tên Vũ Hồ Gia N và Vũ Nguyên K (đều là bản sao).

Tại phiên tòa, KSV phát biểu quan điểm của VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng các Điều 28, 35, 39, 93, 94, 143, 147, 227, 228, 238 và 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS); các Điều 51, 55, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để công nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị L và anh Vũ Văn T;

Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Hồ Gia N, sinh ngày 08/9/2011 cho chị L và giao Vũ Nguyên K, sinh ngày 12/5/2014 cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động, do mỗi người nuôi một con chung nên không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về án phí: Chị L và anh T mỗi người phải chịu một nửa án phí ly hôn sơ thẩm (LHST) là 150.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Hồ Thị L có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị và anh Vũ Văn T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị L và anh Vũ Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/2011 nên quan hệ hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận.

Quá trình chung sống, giữa anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L trình bày là do anh chị không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, khác nhau trong suy nghĩ, trong cách sống của mỗi người, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, nặng nề, không hạnh phúc; vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi bới xúc phạm nhau dẫn đến không tôn trọng nhau. Chị đã từng hai lần nộp đơn ra Tòa án yêu cầu ly hôn với anh T nhưng vì con cái nên chị đã rút yêu cầu khởi kiện về đoàn tụ gia đình nhưng vẫn không thể hàn gắn được. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2017 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn với nhau; anh T cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị L. Như vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và anh chị cùng đồng thuận ly hôn nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và 55 của Luật HN&GĐ năm 2014 để công nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn của anh chị.

[3] Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung tên Vũ Hồ Gia N, sinh ngày 08/9/2011 và Vũ Nguyên K, sinh ngày 12/5/2014. Sau khi ly hôn, anh chị cùng thống nhất giao cháu N cho chị L và giao cháu K cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao động; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Xét thỏa thuận này của anh chị là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX công nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh T không có tài sản chung và nợ chung nên cùng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm (LHST): Chị L và anh T mỗi người phải chịu một nửa án phí theo quy định là 150.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 55, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật HN&GĐ năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 93, 94, 143, 144, 147, 227, 228, 238 và 266 của BLTTDS năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị L và anh Vũ Văn T.

2. Về con chung: Công nhận thỏa thuận của chị L và anh T, giao cháu Vũ Hồ Gia N, sinh ngày 08/9/2011 cho chị L và giao cháu Vũ Nguyên K, sinh ngày 12/5/2014 cho anh T trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, có khả năng lao động; do mỗi người nuôi 01 con chung nên không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị L phải chịu 150.000 đồng án phí LHST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0002174 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; chị L được hoàn trả lại 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí LHST đã nộp.

Anh T phải chịu 150.000 đồng án phí LHST.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, hai đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Gia Lai;
  • -VKSND Kbang;
  • -Chi cục T;
  • -Các đương sự;
  • -UBND cấp xã nơi ĐKKH;
  • -Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST. ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị L và anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger