|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS- ST
Ngày 06 - 8 -2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Kim An.
Bà Kiều Việt Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh - Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông Trần Tiến D – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành ở điểm cầu thành phần.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Mai- Kiểm sát viên.
Kiểm sát viên ở điểm cầu thành phần ông Đặng Ngọc H.
Cán bộ, chiến sĩ thuộc đội hỗ trợ Tư pháp ông Trần Văn B, ông Nguyễn Bùi Thiên N.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi và điểm cầu thành phần tại Hội trường Công an huyện N, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST- HS, ngày 19 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST- HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Đào Vạn Trung B1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/01/2002, tại: tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đào Minh H1, sinh năm 1980 và bà Võ Thị Hồng T, sinh năm 1984; vợ: Lương Thị Lệ T1, sinh năm 2001; con: 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 08/01/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Tạ Ngọc D1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/11/1994, tại: tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; trình độ học vấn 6/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Tạ Ngọc H2, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1966; vợ: Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 2004; con: 02 con, con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 05/9/2012, bị Chủ tịch UBND huyện N ra Quyết định số 379/QĐ-UBND áp dụng biện pháp đưa vào Trường G tháng tại Trường G1 tại xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng đến ngày 06/8/2014 chấp hành xong; tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 09/01/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị Hồng T, sinh năm 1984. (Có mặt)
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1995. (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Lê Tấn T2, sinh năm 2001. (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 08/01/2024 Đào Vạn Trung B1 sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Đào Vạn Trung B1” (đăng ký bằng số điện thoại 0372.304.xxx) nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “Nhật Huy” (thường gọi là Huy mập, không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy nhằm bán lại cho người khác và hẹn buổi trưa sẽ nhận ma túy ở thành phố Q. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, B1 điều khiển xe máy đến đường V, thành phố Q mua 2.000.000đồng ma túy đá của H3. Sau đó, B1 mang số ma túy này về nhà cất giấu để sử dụng và chia nhỏ thành các tép ma túy nhỏ bán cho người khác lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Tạ Ngọc D1 sử dụng số điện thoại 0386.530.xxx gọi điện đến số điện thoại 0372.304.xxx của B1 hỏi “còn đồ không, để anh 400.000đồng” (nghĩa là còn ma túy đá không, bán anh 01 tép 400.000đồng), B1 đồng ý và hẹn giao ma túy gần nhà D1. Tiếp đó, một người tên N1 (không rõ lai lịch, ở huyện T) sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Nguyễn Hoàng N1” gọi điện đến tài khoản faceboock tên “Bảo Bảo” của B1 qua ứng dụng Messenger hỏi “alo, bạn ở đâu đó, để cho tôi 800.000đồng ma túy đá, để chung trong 01 cái được không” (nghĩa là mua 01 tép ma túy đá giá 800.000đồng), B1 đồng ý và thống nhất với “Nam” giao ma túy tại chợ G2 thuộc thôn X, xã H, huyện N. Sau đó, B1 mang 02 tép ma túy (01 tép có giá 400.000đồng và 01 tép có giá 800.000đồng) điều khiển xe máy mang BKS 76F1-276.82 đi từ nhà đến gần nhà D1 ở thôn P, xã H và giao bán 01 tép ma túy 400.000đồng cho D1, D1 nói sẽ trả tiền sau và B1 đồng ý. Rồi B1 điều khiển xe máy đi về hướng chợ G2 để giao bán ma túy cho N1, lúc này D1 đi mua thuốc tây cho vợ tại khu vực chợ G2 nên điều khiển xe máy 76L1- 011.49 đi chung đường với B1. Khi đến tiệm T5 tại khu vực chợ G2 thì D1 vào mua thuốc, B1 đứng ngoài chờ N1 đến để giao 01 tép ma túy 800.000đồng thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang. Khi thấy B1 bị lực lượng Công an bắt giữ thì D1 vứt 01 tép ma túy vừa mua của B1 xuống đường và bị phát hiện. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lập biên bản bắt quả tang, thu giữ tang vật và tiến hành khám xét chỗ ở của Đào Vạn Trung B1, Tạ Ngọc D1.
Quá trình điều tra còn xác định trong ngày 08/01/2024, B1 còn 03 lần bán các tép ma túy đá cho người khác, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 08/01/2024 một người tên M (Trú tại: Đ, thôn Đ, xã H, huyện N) sử dụng tài khoản Facebook tên “Mạnh Mạnh M” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho B1 hỏi “mua cái 3” (nghĩa là mua 01 tép ma túy đá giá 300.000đồng), B1 trả lời chỉ còn tép ma túy giá 400.000đồng và nói Mạnh gom đủ 350.000đồng thì B1 bán. Sau đó, M đã chuyển số tiền 350.000đồng vào số tài khoản Ngân hàng TMCP Q số 69899787979 của B1 và trực tiếp đến nhà B1 nhận ma túy.
Lần thứ hai: Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, người tên F “Mạnh Mạnh M” nói trên tiếp tục nhắn tin cho B1 hỏi mua 01 tép ma túy đá 400.000đồng và chuyển trước 300.000đồng, nợ lại 100.000đồng thì B1 đồng ý. M đã chuyển số tiền 300.000đồng vào số tài khoản ngân hàng TMCP Q số 69899787979 của B1 và trực tiếp đến nhà B1 nhận ma túy.
Lần thứ ba: Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, người tên T3 (không rõ lai lịch, ở xã H, huyện N) sử dụng tài khoản Zalo “Van Thai” nhắn tin qua mạng xã hội Z cho B1 hỏi “mua 1 cái” (nghĩa là mua 01 tép ma túy đá giá 400.000đồng), hẹn giao ma túy phía trước cây xăng Phú Bình thị trấn C, huyện N và B1 đồng ý. B1 chia ma túy đã mua của “Nhật Huy” vào 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu và mang tới cây xăng P giao cho T3. T3 nhận ma túy và chuyển khoản 395.000đồng vào tài khoản MOMO (sử dụng số điện thoại 0372.304.xxx đăng ký) của B1. T3 nói với B1 không đủ tiền trong tài khoản nên chuyển 395.000 đồng, B1 đồng ý.
Tại Kết luận giám định số: 25/KL- KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
- “- Chất rắn màu trắng bên trong túi niêm phong mã số PS3-2146033 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,28 gam.
- - Chất rắn màu trắng bên trong túi niêm phong mã số PS3-2146032 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,17 gam.
- - Chất rắn màu trắng bên trong túi niêm phong mã số PS3-2146012 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 1,45 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Ngày 07/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 44/QĐ- ĐCSHS- KT- MT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Q giám định dữ liệu điện tử lưu trữ trong điện thoại của Đào Vạn Trung B1. Kết luận giám định số: 12/KL- KTHS, ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q về dữ liệu lưu trữ trong điện thoại di động của Đào Vạn Trung B1.
* Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKS-NH ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi truy tố các bị cáo Đào Vạn Trung B1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Tạ Ngọc D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Vạn Trung B1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Tạ Ngọc D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- - Áp dụng tại điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đào Vạn Trung B1.
- + Xử phạt bị cáo B1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- - Áp dụng tại điểm c khoản 1 Điều 49; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Tạ Ngọc D1
- + Xử phạt bị cáo D1 từ 01 năm đến 02 năm tù.
- - Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án: 1,20 gam ma túy loại Methamphetamin trong vỏ bao có mã số PS2 2013802 có dấu của phòng K Công an tỉnh Q.
- + 02 kéo Inox; 04 đoạn ống nhựa; 02 máy lửa ga; 01 hộp giấy ; 01 đoạn lò xo; 02 đoạn ống thủy tinh.
- Trả lại cho anh Lê Tấn T2 01 điện thoại di động hiệu Redmi.
- Trả lại cho bị cáo Tạ Ngọc D1 01 xe máy mang biển số 76L1- 011.49.
- Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên toà lời khai của các bị cáo Đào Vạn Trung B1 và bị cáo Tạ Ngọc D1 phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện vào khoảng 19 giờ, ngày 08/01/2024, bị cáo Tạ Ngọc D1 dùng số điện thoại 0386.530.xxx gọi điện đến số điện thoại 0372.304.xxx của bị cáo Đào Vạn Trung B1 để mua ma túy với số tiền là 400.000đồng, bị cáo B1 giao ma túy cho bị cáo D1 tại chợ G2 thuộc thôn X, xã H, huyện N. Sau đó, bị cáo B1 tiếp tục mang ma túy đi bán cho một người một người tên N1 (không rõ lai lịch, ở huyện T) sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Nguyễn Hoàng N1” gọi điện đến tài khoản faceboock tên “Bảo Bảo” của B1 qua ứng dụng Messenger để mua ma túy thì bị Công an huyện N bắt giữ cả hai bị cáo.
Qua điều tra còn xác định bị cáo B1 còn có các lần bán ma túy như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 08/01/2024 một người tên M sử dụng tài khoản Facebook tên “Mạnh Mạnh M” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho B1 để mua ma túy và chuyển tiền cho bị cáo B1 số tiền 350.000đồng vào số tài khoản Ngân hàng TMCP Q của bị cáo B1, bị cáo B1 đã giao ma túy cho người mua.
Lần thứ hai: Đến khoảng 13 giờ ngày 08/01/2024, người tên F “Mạnh Mạnh M” nhắn tin cho bị cáo B1 để mua ma túy và người này đã chuyển số tiền 300.000đồng vào số tài khoản ngân hàng TMCP Q số 69899787979 của B1 và trực tiếp đến nhà B1 nhận ma túy.
Lần thứ ba: Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, một người tên T3 (không rõ lai lịch, ở xã H, huyện N) sử dụng tài khoản Zalo “Van Thai” nhắn tin qua mạng xã hội Z cho B1 để mua ma túy người này nhận ma túy và chuyển khoản 395.000đồng vào tài khoản MOMO (sử dụng số điện thoại 0372.304.xxx đăng ký) của B1.
Số ma túy thu giữ của bị cáo Đào Vạn Trung B1 và bị cáo Tạ Ngọc D1 và số ma túy thu giữ tại nhà bị cáo B1 được Phòng K Công an tỉnh Q có kết luận như sau:
Tại Kết luận giám định số: 25/KL- KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
- “- Chất rắn màu trắng bên trong túi niêm phong mã số PS3-2146033 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,28 gam.
- - Chất rắn màu trắng bên trong túi niêm phong mã số PS3-2146032 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,17 gam.
- - Chất rắn màu trắng bên trong túi niêm phong mã số PS3-2146012 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 1,45 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Vậy hành vi của bị cáo Đào Vạn Trung B1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Tạ Ngọc D1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
[3] Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý chất cấm, gây dư luận xấu trong xã hội nên cần xử phạt các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
[3.1] Bị cáo Đào Vạn Trung B1 đã nhiều lần bán ma túy cho người khác hành vi của bị cáo gây dư luận xấu trong xã hội, gây tác hại xấu trong xã hội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm răn đe giáo dục bị cáo và cảnh tỉnh với những người khác, cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3.2] Bị cáo Tạ Ngọc D1 chỉ vì sở thích cá nhân đã mua ma túy của bị cáo B1 để sử dụng, hành vi của bị cáo ảnh hưởng xấu cho xã hội, cho gia đình nên cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo.
[4] Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt vì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự, bị cáo Tạ Ngọc D1 có ông nội tham gia tập kết ra Bắc nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Trong vụ án này bị cáo Đào Vạn Trung B1 khai mua ma túy của một người tên “Nhật Huy” cơ quan điều tra đã điều tra nhưng không xác định được là ai, sau này làm rõ được sẽ xử lý sau.
[5.1] Cơ quan điều tra đã điều tra người dùng F1 có tên “Mạnh Mạnh M” và người dùng Zalo có tên “ Van Thai” nhắn tin mua ma túy của bị cáo B1 nhưng không làm rõ được hai người này ở đâu nên khi nào làm được sẽ xử lý sau.
[5.2] Mẹ của bị cáo Đào Vạn Trung B1 là bà Võ Thị Hồng T không biết việc bị cáo B1 mua ma túy về cất trong nhà để bán lại cho người khác nên cơ quan Điều tra không xử lý đối với bà T là có căn cứ pháp luật.
[6] Chiếc xe moto mang biển số 76 F1- 27682 bị cáo B1 điều khiển đi bán ma túy là bị cáo mượn của anh T2 anh T2 không biết việc B1 mượn xe để đi bán ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho chủ sở hữu là có căn cứ pháp luật.
[7] Trả lại cho bị cáo Tạ Ngọc D1 chiếc xe máy mang biển số 76L1 – 011.49, trả lại cho anh Lê Tấn T2 01 điện thoại hiệu Redmi.
[8] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[9] Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng: + Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đào Vạn Trung B1.
- + Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Tạ Ngọc D1.
- + Áp dụng: Khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- - Tuyên bố: Bị cáo Đào Vạn Trung B1 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Tạ Ngọc D1 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- - Tuyên phạt: Bị cáo Đào Vạn Trung B1 08 (Tám) năm tù, thời gian tính từ ngày 08/01/2024.
- + Bị cáo Tạ Ngọc D1 01 (Một) năm tù, thời gian tính từ ngày 09/01/2024.
- * Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 1,20 gam ma túy loại Methamphetamin trong vỏ bao có mã số PS2 2013802 có đóng dấu của phòng K Công an tỉnh Q.
- + 02 kéo Inox; 04 đoạn ống nhựa; 02 máy lửa ga; 01 hộp giấy; 01 đoạn lò xo; 02 đoạn ống thủy tinh.
- + Trả lại cho bị cáo Tạ Ngọc D1 chiếc xe máy mang biển số 76L1 – 011.49, trả lại cho anh Lê Tấn T2 01 điện thoại hiệu Redmi được niêm phong trong túi có mã số PS 3A 105269 bên ngoài có đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q
- Các tang vật có đặc điểm theo biên bản giao nhận tang vật do cơ quan Công an huyện N chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hành ngày 10/7/2024.
- - Án phí hình sự: Mỗi bị cáo Đào Vạn Trung B1, Tạ Ngọc D1 phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người liên quan được quyền kháng cáo đến phần liên quan đến mình kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Hải Nam |
Bản án số 28/2024/HS- ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: B bán ma túy
