|
TAND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ - ST
Ngày 15/7/2024
“V/v ly hôn giữa chị Phượng
và anh Phương”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lục Viết Sang
- Bà Vũ Thị Thu Ngát
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án huyện Yên Thế
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 24 /5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QÐST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1994
Nơi ĐKHKTT: Bản B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Phan Văn P1, sinh năm 1994
Địa chỉ: Bản B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P trình bày: Chị và anh Phan Văn P1 kết hôn ngày 12/8/2013 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y. Vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh P1 chơi bời, không tu chí làm ăn, có quan hệ tình cảm với người khác, thường xuyên đi qua đêm không về nhà. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh P1 không thay đổi. Anh chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng từ năm 2023, nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, không còn yêu thương, quan tâm đến nhau nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P1.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Phan Anh T, sinh ngày 18/01/2014 và Phan Đức A, sinh ngày 20/3/2017, hiện cả hai con chung đang ở cùng chị và gia đình bên ngoại, đời sống và sức khoẻ bình thường. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn là anh Phan Văn P1, mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, giao các văn bản tố tụng nhưng anh P1 không đến Tòa án làm việc, không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Phan Văn P1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Phan Văn P1.
- Về con chung: Giao cháu Phan Tuấn A1, sinh ngày 18/01/2014 và cháu Phan Đức A, sinh ngày 20/3/2017 cho chị Nguyễn Thị P2 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phan Văn P1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị P.
- Về án phí: chị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị P và anh Phan Văn P1 đều cư trú trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên việc Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về sự vắng mặt của đương sự: Mặc dù nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P và bị đơn là anh Phan Văn P1 vắng mặt nhưng chị P có đơn xin xét xử vắng mặt, anh P1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên cần áp dụng khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Xem xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị P xin ly hôn anh Phan Văn P1: Chị P và anh P1 kết hôn với nhau ngày 12/8/2013 dựa trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù anh chị có thời gian dài chung sống hoà thuận và đã có hai con chung nhưng đến năm 2023, do anh phương không tu chí làm ăn để chăm lo cuộc sống gia đình, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Chị P khuyên bảo nhưng anh P1 không thay đổi nên anh chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng, không còn yêu thương, quan tâm đến nhau nữa. Nay chị P vẫn cương quyết xin ly hôn, còn anh P1 không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên hòa giải, cũng không không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị P, chứng tỏ anh P1 cũng không có nguyện vọng đoàn tụ. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị P, xử cho chị P được ly hôn anh P1.
[4]. Về con chung: Anh chị có 2 con chung là Phan Anh T, sinh ngày 18/01/2014 và Phan Đức A, sinh ngày 20/3/2017, hiện cả hai con chung đang ở cùng chị và gia đình bên ngoại, đời sống và sức khoẻ bình thường. Nay chị P yêu cầu được nuôi cả hai con chung, các con của anh chị cũng đều có nguyện vọng được ở với chị P; còn anh P1 không đưa ra ý kiến, yêu cầu về việc nuôi con chung nên cần giao cho chị P tiếp tục nuôi cả hai con chung là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị P tự nguyện không yêu cầu nên nghĩa vụ này không đặt ra đối với anh P1 cho đến khi các đương sự có yêu cầu.
[5]. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí: Chị P không thuộc trường hợp được miễn, giảm tiền án phí nên chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Phan Văn P1.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi cả hai con chung là Phan Anh T, sinh ngày 18/01/2014 và Phan Đức A, sinh ngày 20/3/2017. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra cho đến khi đương sự có yêu cầu.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị P đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000365 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế (xác nhận chị P đã nộp đủ tiền án phí).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 28/2024/HNGĐ - ST ngày 15/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH Phượng Phương
