Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THẾ

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 28/2024/HSST

Ngày 11/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lục Viết Sang
Ông Thân Văn Bình

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Lương Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế.

Đại diện VKSND huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị N - Kiểm sát viên.

Ngày 11/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/HSST ngày 05/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến H, sinh năm 1976; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên bố: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1951 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1953; Họ tên vợ: Đào Thị N1, sinh năm 1981; Con: Bị cáo có 2 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2021; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 28/7/2022, UBND xã A, huyện Y ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình (chấp hành xong ngày 28/01/2023).

Nhân thân:

  • Ngày 07/4/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 27/01/2020.
  • Ngày 08/6/2012, UBND huyện Y ra quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh (chấp hành xong ngày 28/6/2013).

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Ông Nguyễn Lê H2, sinh năm 1950

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (đề nghị xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Đào Thị N1, sinh năm 1981

Địa chỉ: thôn T, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (đề nghị xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng: Bà Lê Thị Q, sinh năm 1960

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 27/3/2024, Nguyễn Tiến H, sinh năm 1976 ở thôn T, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều kiển xe mô tô nhãn hiệu Deaahan, màu trắng, biển kiểm soát 98AL-007.10 một mình từ nhà đến Trung tâm y tế huyện Y để uống Methadone. Khi đến đoạn đường gần quán ăn sáng của bà Lê Thị Q, sinh năm 1960 ở tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; H dừng xe mô tô lại để hút thuốc lá thì phát hiện giỏ xe mô tô của ông Nguyễn Lê H2, sinh năm 1950 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để 01 chiếc ví da bên trong đựng số tiền 10.100.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm xã hội đều mang tên Nguyễn Lê H2 và 01 thẻ khách hàng công ty điện lực mang tên Đinh Thị S1 nên H2 đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc ví này để lấy tiền tiêu sài cá nhân. H2 lại gần xe mô tô, dùng tay trái trộm cắp chiếc ví da cất giấu vào túi quần bên trái H2 đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi đến Trung tâm y tế huyện Y để uống thuốc Methadone, sau đó điều khiển xe mô tô về nhà. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày 27/3/2024, nhận thấy hành vi “Trộm cắp tài sản” của mình là vi phạm pháp luật nên H2 đã đến Công an thị trấn P, huyện Y đầu thú và tự nguyện giao nộp: 01 ví da màu nâu, số tiền 10.100.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Lê H2, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Lê H2; 01 thẻ thanh toán điện mang tên Đinh Thị S1 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98AL-007.10.

Ngày 27/3/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiến hành test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Tiến H, kết quả H dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Ngày 27/3/2024, ông Nguyễn Lê H2 gửi đơn trình báo đến Công an thị trấn P, huyện Y. Cùng ngày, Công an thị trấn P chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị tài sản yêu cầu định giá trên tại thời điểm định giá ngày 27/3/2024 là: 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng), cụ thể:

  • + 01 ví da màu nâu: 5.000 đồng;
  • + Phí cấp lại 01 thẻ CCCD là 35.000 đồng;
  • + Phí cấp lại 01 thẻ bảo hiểm xã hội là 0 đồng;
  • + Phí cấp lại 01 thẻ khách hàng công ty Đ: 0 đồng.

Ngày 12/4/2024, Cơ quan điều tra trích xuất từ hệ thống Camera an ninh tại khu vực Công ty M thuộc tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y có thời lượng 01 phút thời gian từ 09 giờ 02 phút 00 giây đến 09 giờ 03 phút 00 giây có hình ảnh H2 điều khiển xe mô tô sau khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” của ông Nguyễn Lê H2 vào ngày 27/3/2024 tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y.

Ngày 07/5/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho H2 thực nghiệm lại hành vi trộm cắp vào ngày 27/3/2024 tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của H2 và các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 04/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Hưng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H từ 09 tháng tù đến 11 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Trả lại chị Đào Thị N1 chiếc xe máy. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận mà chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện huyện Y; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại là ông Nguyễn Lê H2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đào Thị N1, người làm chứng là bà Q vắng mặt nhưng ông H2 và chị N1 đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Ông H2, chị N1 và bà Q đều đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án trong đó thể hiện rõ ý kiến liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H2, chị N1 và bà Q.

2. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 27/3/2024, tại đoạn đường gần quán ăn sáng của bà Lê Thị Q, sinh năm 1960 ở tổ dân phố T, thị trấn P, huyện Y; Nguyễn Tiến H- sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã A, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc ví da màu nâu, bên trong có: Số tiền là 10.100.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm xã hội đều mang tên Nguyễn Lê H2 và 01 thẻ khách hàng công ty điện lực mang tên Đinh Thị S1, với tổng trị giá là 10.140.000 đồng của ông Nguyễn Lê H2, sinh năm 1950 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Khi thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại nên hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ.

3. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

– Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

– Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú và nộp lại số tiền trộm cắp 10.100.000đồng; Có bố đẻ là ông Nguyễn Văn H1 được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

– Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị UBND xã A, huyện Y ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị UBND huyện Y ra quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh nhưng bị cáo không rút kinh nghiệm cho bản thân nay lại cố ý phạm tội.

Từ tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng nhằm giáo dục bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

– Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

4. Về hành vi khác trong vụ án: Quá trình điều tra H2 khai nhận: Ngày 27/3/2024, H2 có hành vi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết, đeo khẩu trang đội mũ bảo hiểm ở đoạn bờ sông gần Cầu Đ thuộc xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang rồi sử dụng ma túy tại đó. Ngày 10/5/2024, Cơ quan điều tra đã có Công văn trao đổi thông tin đến Công an huyện T để tiến hành xác minh, xử lý theo thẩm quyền là đúng pháp luật.

5. Về vật chứng:

  • Đối với 01 ví da màu nâu đã cũ, 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm xã hội đều mang tên Nguyễn Lê H2; 01 thẻ khách hàng công ty điện lực mang tên Đinh Thị S1; Số tiền 10.100.000 đồng là tài sản thuộc quyền sỡ hữu hợp pháp của ông Nguyễn Lê H2 nên ngày 15/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại các tài sản này cho ông H2 là đúng pháp luật.
  • Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98AL- 007.10, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Đào Thị N1, sinh năm 1981 (là vợ của H2, ở cùng địa chỉ với H2). Chị N1 không biết H2 sử dụng xe mô tô này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên chị N1 không vi phạm pháp luật. Cần trả lại cho chị Đào Thị N1.

6. Về trách nhiệm dân sự: Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Lê H2 không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại.

7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Tiến H.

2. Về vật chứng: điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho chị Đào Thị N1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DEAAHAN, biển kiểm soát 98AL – 007.10.

3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Tiến H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - STP tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - CA huyện Yên Thế;
  • - CCTHADS huyện Yên Thế;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thế Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 28/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến H trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger