|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 21/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Nguyễn Văn Hơn.
2. Bà Trần Thị Kim Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thanh T, sinh ngày 25/01/1991 tại huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú: 220/54, ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Á và bà Trần Thị Thu V; Chị em ruột có 02 người, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991 là bị cáo; Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Chế Thị H (sinh năm 1993, nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre) và có 01 con chung sinh năm 2013.
Tiền sự: 03 tiền sự
- + Ngày 06/5/2022, bị UBND huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 6.500.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, chưa nộp phạt.
- + Ngày 02/12/2022, bị Công an huyện C, tỉnh Bến Tre ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 8.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, chưa nộp phạt.
- + Ngày 28/6/2023, bị UBND huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 7.250.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chưa nộp phạt.
Tiền án: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 19/10/2010, bị Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”, đã nộp phạt xong.
- + Ngày 01/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2019 và đã nộp xong án phí hình sự. Được xóa án tích.
- + Ngày 19/12/2023, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 8.000.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, chưa nộp phạt.
- + Ngày 10/01/2024, bị UBND huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 21.500.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Sử dụng trái phép vũ khí thô sơ”, chưa nộp phạt.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Nguyễn Duy T1, sinh năm 1986. Vắng mặt
- Địa chỉ: 1, ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người làm chứng:
- + Lê Thị M, sinh năm 1955. Vắng mặt
- Địa chỉ: 1, ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- + Trần Thị Thu V, sinh năm 1963. Vắng mặt
- Địa chỉ: 2, ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 09/11/2023, Lê Thanh T nhờ cháu tên N đến nhà bà Lê Thị M là cô ruột của T để nói bà M trả trước số tiền 200.000đồng vì trước đây bà có mượn của T số tiền 500.000đồng. Do không có tiền trả nên bà M đi đến trước nhà của chị Lê Thị Thanh N1, sinh năm 1989, cư trú cùng ấp bà M để nói chuyện với T là chưa có tiền để trả. T nghe nên tức giận đứng trong nhà mình chửi tục. Sau đó, bà M về nhà gọi điện thoại nói cho con ruột là Nguyễn Duy T1 biết sự việc bà M bị T chửi. Khoảng 15 phút sau, T1 điều khiển xe mô tô hai bánh loại Exciter, biển số 71C4-320.90 đến dựng tại sân nhà của chị N1 để đi đến nhà T hỏi lý do vì sao chửi mẹ mình nên giữa T1 và T xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, T1 dùng tay đánh vào vai phải của T một cái không gây thương tích, T đứng dậy dùng chân đạp vào người T1 nhưng không trúng, sau đó cả hai chửi nhau rồi T1 bỏ về nhà. T đi vào nhà lấy một con dao bứng cây đi tìm T1 nhưng không gặp, T nhìn thấy xe mô tô của T1 đang dựng trước nhà chị N1 nên nhặt một thanh kim loại hình chữ “V” dài 55cm trên đống cát trước nhà chị N1 đi đến vị trí xe của T1 đang dựng đập nhiều cái vào phần đầu xe làm vỡ cụm đồng hồ báo tốc độ, vỡ tay thắng dầu, vỡ cụm chân kính chiếu hậu bên phải, vỡ ốp nhựa đầu xe, vỡ cụm đèn chiếu sáng phía trước, vỡ mặt nạ, vỡ đèn mi bên phải.
Hội đồng định giá tài sản huyện C có Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 10/01/2024 kết luận tại thời điểm ngày 09/11/2023:
- - Cụm đồng hồ báo tốc độ bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Giá trị thiệt hại: 1.800.000đồng;
- - Tay thắng dầu bị vỡ, cụm chân kính chiếu hậu bên phải bị vỡ. Giá trị thiệt hại: 300.000đồng;
- - Ốp nhựa đầu xe vỡ hoàn toàn. Giá trị thiệt hại: 900.000đồng;
- - Cụm đèn chiếu sáng phía trước vỡ hoàn toàn. Giá trị thiệt hại: 600.000đồng;
- - Mặt nạ bị vỡ. Giá trị thiệt hại: 500.000đồng;
- - Đèn mi bên phải bị vỡ. Giá trị thiệt hại: 1.200.000đồng.
Tổng giá trị thiệt hại là 5.300.000đồng.
Vật chứng thu giữ:
Một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đỏ - đen, số máy G3D4E740770, số khung RLCUG0610JY712245, biển số 71C4-320.90 và một thanh kim loại dài 55cm, loại kim loại có hình chữ “V”, chiều rộng mỗi cạnh 2,5cm, một đầu đoạn kim loại được hàn một đoạn kim loại nhỏ hình chữ “V” dài 03cm, chiều rộng mỗi cạnh 2,5cm.
Phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.500.000đồng, đối với giá trị thiệt hại còn lại, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về chi phí sửa chữa nên bị hại không có yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số 28/CT-VKSCL ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thanh T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, h và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:
Ghi nhận ngày 15/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Duy T1 một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đỏ - đen, số máy G3D4E740770, số khung RLCUG0610JY712245, biển số 71C4-320.90.
Tịch thu tiêu hủy một thanh kim loại dài 55cm, loại kim loại có hình chữ “V”, chiều rộng mỗi cạnh 2,5cm, một đầu đoạn kim loại được hàn một đoạn kim loại nhỏ hình chữ “V” dài 03cm, chiều rộng mỗi cạnh 2,5cm là công cụ gây án.
Về bồi thường thiệt hại:
Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.500.000đồng, đối với giá trị thiệt hại còn lại, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về chi phí sửa chữa nên bị hại không có yêu cầu gì khác.
Tại tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng họ là phù hợp quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Xuất phát từ mục đích muốn làm hư hỏng tài sản của người khác nên vào khoảng 14 giờ ngày 09/11/2023 tại ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre, Lê Thanh T đã có hành vi dùng một thanh kim loại đập vào xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đỏ - đen của anh Nguyễn Duy T1 làm hư hỏng một số bộ phận của xe. Tổng giá trị thiệt hại được Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận là 5.300.000đồng.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác là hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ cá nhân nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành, giá trị tài sản bị cáo làm hư hỏng là 5.300.000đồng là tình tiết định khung hình phạt vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, việc truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ và đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, người phạm tội thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xin cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo là lao động chính nuôi cha mẹ lớn tuổi và con còn nhỏ và bị cáo có cha ruột là ông Lê Văn Á được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến công hạng 3 theo quy định tại các điểm b, h và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến giá trị tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân rất xấu, từng bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” và nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” nhưng rõ ràng bị cáo không chấp nhận sửa đổi tính tình. Xét tính chất, mức độ, hậu quả và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử cần thiết áp dụng mức phạt tù nghiêm để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, h và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Căn cứ Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Ghi nhận ngày 15/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Duy T1 một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đỏ - đen, số máy G3D4E740770, số khung RLCUG0610JY712245, biển số 71C4-320.90.
Tịch thu tiêu hủy một thanh kim loại dài 55cm, loại kim loại có hình chữ “V”, chiều rộng mỗi cạnh 2,5cm, một đầu đoạn kim loại được hàn một đoạn kim loại nhỏ hình chữ “V” dài 03cm, chiều rộng mỗi cạnh 2,5cm.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Về bồi thường thiệt hại:
Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 1.500.000đồng, đối với giá trị thiệt hại còn lại giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về chi phí sửa chữa nên bị hại không có yêu cầu gì khác.
3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Thanh T phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Chí Cường |
6
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về hình sự sơ thẩm về tội cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh T
