Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ - ST

Ngày 26 – 04 – 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc
  • Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thảo Yến và bà Nguyễn Thị Liên
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 105/2023/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 04 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thanh H, sinh năm 1980; HKTT: Số nhà 09, phố Văn Cao, phường K, thành phố B (Vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1979; HKTT: Tổ dân phố Hữu Nghi, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, chị Ngô Thanh H trình bày: Chị và anh Nguyễn Trọng Q được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 07/4/2008 tại UBND xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang (Nay là phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang). Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra chiến tranh lạnh và kéo dài do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Trọng Q.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trọng An H, sinh ngày 25/6/2009 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 29/10/2011. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh Q cấp dưỡng 3.500.000 đồng/cháu/tháng nhưng sau đó anh Q đề nghị không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung thì chị đồng ý không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai anh Nguyễn Trọng Q trình bày: Anh và chị H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 07/4/2008 tại UBND xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (Nay là phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang). Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận, chị H chỉ thỉnh thoảng về nhà không nói chuyện gì với anh nhưng anh cũng không rõ nguyên nhân. Vợ chồng đã ly thân mấy năm. Nay chị H đề nghị ly hôn thì anh tôn trọng quyết định của chị H, không có ý kiến gì.

Về con chung: Xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trọng An H, sinh ngày 25/6/2009 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 29/10/2011. Ly hôn anh đồng ý giao cả hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung do anh vẫn có trách nhiệm với các con. Trường hợp chị H không đồng ý thì anh đề nghị mỗi người nuôi một con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện VKSND thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo nguyên tắc xét xử. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Q.
  • Về con chung: Giao cho chị Ngô Thanh H là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Trọng An H, sinh ngày 25/6/2009 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 29/10/2011.
  • Quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của pháp luật
  • Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ: Các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị Ngô Thanh H yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Trọng Q và giải quyết nuôi con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Trọng Q đăng ký thường trú tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Bị đơn đồng ý để Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn tại phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giải quyết. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thanh H và anh Nguyễn Trọng Q kết hôn ngày 07/4/2008, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (Nay là phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang) nên đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H làm đơn xin ly hôn, anh Q đồng ý ly hôn.

HĐXX xét xử xét thấy chị H, anh Q đều xác nhận vợ chồng ly thân đã lâu. Chị H làm đơn xin ly hôn anh Q không có ý kiến gì. Xét thấy, Tòa án đã tạo điều kiện để anh Q đến Tòa án làm việc, tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng anh Q đều vắng mặt không có lý do. Vợ chồng cũng đã ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Như vậy, hôn nhân giữa chị H và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H về việc ly hôn anh Q theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị Ngô Thanh H và anh Nguyễn Trọng Q có 02 con chung là Nguyễn Trọng An H, sinh ngày 25/6/2009 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 29/10/2011. Ly hôn chị H đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung, anh Q đồng ý và không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy: Cháu Huy, cháu Thư hiện đang sống cùng chị H và đều có nguyện vọng được ở với chị H. Chị H, anh Q đều đồng ý đề chị H tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung. Vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cả 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Ngô Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 264, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thanh H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Q.
  2. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thanh H là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Trọng An H, sinh ngày 25/6/2009 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 29/10/2011. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con : không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Ngô Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. (Xác nhận chị Ngô Thanh H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu ký hiệu: BLTU/23, số 0000539 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Ninh;
  • - UBND phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thanh Ngọc

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Đức Phú

Nguyễn Thị Liên

Đỗ Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ - ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thanh H - Nguyễn Trọng Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger