|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn
Ông Lê Văn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29 /2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 (Phiên tòa trực tuyến diễn ra tại điểm cầu trung tâm là tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương và điểm cầu thành phần là tại Trại giam Công an tỉnh N) đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ- Sinh ngày 01/5/1986 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm Đ, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (Đã chết ) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1952; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 17/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại bản án số 41/2020/HS-ST, ngày 17/6/2020. Đã chấp hành xong hình phạt
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/01/2024 cho đến nay. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 08/01/2024 tại khu vực cầu B thuộc xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An tổ công tác Công an xã T phối hợp với Công an Thị trấn Đ và Công an xã L, huyện Đ đang đi làm nhiệm vụ và phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986, trú tại xóm Đ, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có hành vi tàng trữ 0,257g ma túy (Heroin).
Vật chứng vụ án: 01 (một) gói nhỏ bằng giấy thiếc màu trắng mặt trong màu xanh nước biển, có kích thước (01x02)cm sau khi loại bỏ vỏ giấy, chất bột màu trắng có khối lượng là 0,257g (Không phẩy hai trăm năm mươi bảy gam).
Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 08/01/2024 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ đã thành lập Hội đồng tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ có khối lượng là 0,257g (không phẩy hai trăm năm mươi bảy gam). Hội đồng đã lấy toàn bộ chất bột màu trắng gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 159/KTHS(Đ2-MT) ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D. Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ có tổng khối lượng là 0,257g (Không phẩy hai trăm năm mươi bảy gam). Mẫu cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận: số ma túy bị cáo tàng trữ và bị thu giữ ngày 08/01/2024 là của bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đê thuộc xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An với giá 300.000 đồng vào khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày để sử dụng cá nhân. Bị cáo đang đi bộ đến khu vực cầu B thuộc xóm G, xã T thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang.
Ngày 22/3/2024, Cơ quan điều tra đã chuyển số vật chứng cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương bảo quản gồm: 01 phong bì Công an huyện Đ màu trắng, kích thước 17x23cm, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) gói nhỏ bằng giấy thiếc màu trắng, mặt trong màu xanh nước biển có kích thước 01x02cm thu giữ của Nguyễn Văn Đ ngày 08/01/2024, phía mặt sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của Nguyễn Văn Đ.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS-ĐL ngày 22/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 21 tháng đến 24 tháng tù
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng là tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì Công an huyện Đ màu trắng, kích thước 17x23cm, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) gói nhỏ bằng giấy thiếc màu trắng, mặt trong màu xanh nước biển có kích thước 01x02cm thu giữ của Nguyễn Văn Đ ngày 08/01/2024, phía mặt sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của Nguyễn Văn Đ.
Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Bản kết luận giám định chất ma túy, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 08/01/2024, tại khu vực cầu B thuộc xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Văn Đ đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (Heroin) có khối lượng 0,257g với mục đích để sử dụng thì lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ lần này đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.
[3]. Xét tính chất, nhân thân:
Xét tính chất vụ án, nhân thân: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là nguồn gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, ngày 17/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, thể hiện là đối tượng khó cải tạo, bị cáo đủ nhận thức để biết được tác hại của mà túy song bị cáo vẫn không tự giác cai nghiện mà vẫn mua ma túy để sử dụng. Vì vậy phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[4]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự), nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về làm công dân có ích cho xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6].Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,257g ma túy thu giữ của Nguyễn Văn Đ đã được sử dụng hết vào mục đích giám định kỹ thuật hình sự; 01 phong bì Công an huyện Đ màu trắng, kích thước 17x23cm, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) gói nhỏ bằng giấy thiếc màu trắng, mặt trong màu xanh nước biển có kích thước 01x02cm thu giữ của Nguyễn Văn Đ ngày 08/01/2024, phía mặt sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của Nguyễn Văn Đ. hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
[7]. Về các nội dung khác của vụ án:
Trong vụ án này Nguyễn Văn Đ khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết, hiện Cơ quan điều tra vẫn tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[8]. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 08/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Văn Đ.
-
Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì Công an huyện Đ màu trắng, kích thước 17x23cm, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 (một) gói nhỏ bằng giấy thiếc màu trắng, mặt trong màu xanh nước biển có kích thước 01x02cm thu giữ của Nguyễn Văn Đ ngày 08/01/2024, phía mặt sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của Nguyễn Văn Đ.
( Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).
-
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ VĂN ĐẠT |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Đình Nhàn |
Lê Văn Ngọc |
Lê Văn Đạt |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ - tội danh Tàng trữ trái phép chất ma túy
