|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 25 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Thủy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử
- Bà Nguyễn Thị Thu Lương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án huyện Ân Thi
- Đại diện Viện kiểm sát huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
- Bà Nguyễn Thị Hữu - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở UBND xã P, huyện Â, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 12/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với:
- Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 - Giới tính: Nam
- Nơi sinh và nơi cư trú: thôn H, xã P, huyện Â
- Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không
- Nghề nghiệp: Lao động tự do - Trình độ học vấn: 7/10
- Bố đẻ: Nguyễn Văn D (đã chết)
- Mẹ đẻ: Đỗ Thị D1 (đã chết)
- Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ năm.
- Vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974 (đã ly hôn)
- Con 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000
- Tiền án, tiền sự: Không có
Nhân thân:
- - Ngày 12/11/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện  quyết định về việc đưa người vào Trung tâm chữa bệnh- giáo dục - Lao động xã hội tỉnh H, thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được đưa đi chấp hành quyết định. (Chấp hành xong ngày 13/11/2013).
- - Ngày 12/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. (Chấp hành xong bản án ngày 26/6/2016).
- - Ngày 13/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Chấp hành xong bản án ngày 30/4/2019).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 23/01/2024. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Â1. (Có mặt)
Người làm chứng: Ông Đào Xuân D2, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Trú tại: thôn H, xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi T đi đến khu vực C thuộc địa phận thôn S, xã P thì gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, nhìn giống người nghiện chất ma tuý nên T đi đến gần hỏi mua ma tuý thì người đàn ông đồng ý. T đưa cho người đàn ông số tiền 100.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho T 01 đoạn ống bằng nhựa màu trắng đỏ được dán kín hai đầu bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột. T biết là ma tuý nên cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi về. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi T đi đến đoạn đường DT382 thuộc địa phận thôn H, xã P thì gặp Công an huyện Â1 và Công an xã P đang tuần tra đảm bảo an ninh trật tự thấy T có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay trái T có 01 đoạn ống bằng nhựa màu trắng đỏ được dán kín hai đầu kích thước (01 x 1,5)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, T khai nhận là ma tuý mua để sử dụng. Công an huyện Â1 đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của T 01 đoạn ống bằng nhựa màu trắng đỏ được dán kín hai đầu có kích thước (01 x 1,5)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, được niêm phong trong bì thư ký hiệu (I).
Cùng ngày, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với T: Kết quả dương tính với chất ma tuý.
Bản Kết luận giám định số 198/KL-KTHS(MT) ngày 20/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu (I), có khối lượng là 0,139g là ma tuý, loại Heroine . H lại sau giám định gồm: 0,133g là ma tuý, loại Heroine; 01 vỏ ống bằng nhựa màu trắng đỏ và 01 vỏ phong bì trong một niêm phong ghi số 198/KL-KTHS(MT).
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,133g Heroine, 01 vỏ ống bằng nhựa màu trắng đỏ và 01 vỏ phong bì do Phòng K Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong ghi số 198/KL-KTHS(MT) được quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện Â1.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo T, nhưng do bị cáo khai không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSAT ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Thạnh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng số 32/CT-VKSAT ngày 12/4/2024. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
- - Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,133g Heroine (H), 01 vỏ ống bằng nhựa màu trắng đỏ và 01 vỏ phong bì do Phòng K Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong ghi số 198/KL-KTHS(MT) được quản lý tại Chi cục thi hành án huyện Ân Thi.
- - Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Do gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Â1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Â, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 17/01/2024, tại đoạn đường ĐT382 thuộc địa phận thôn H, xã P, huyện Â. Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giấu trên người 0,139g Heroin mục đích để sử dụng trái phép thì bị phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy nói chung và H1 nói riêng. Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý mua nhằm thỏa mãn nhu cầu của
bản thân. Hiện nay các tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây bất ổn đến tình hình an ninh trật tự xã hội ở địa phương. Chính vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh, kịp thời là cần thiết nhằm trừng trị người phạm tội và có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử còn cân nhắc xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng một hình phạt tương xứng.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt.
- Về tình tiết tăng nặng: Đối chiếu với các quy định của Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã 02 lần bị Tòa kết án về tội phạm về ma túy, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật, không coi trọng sức khỏe của bản thân, vì vậy đối với hành vi phạm tội lần này của bị cáo cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng gáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4]. Về xử lý vật chứng: 0,133g Heroine là chất cấm nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy cùng với 01 vỏ ống bằng nhựa màu trắng đỏ đựng ma túy, 01 vỏ phong bì do Phòng K Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong ghi số 198/KL-KTHS(MT) được quản lý tại Chi cục thi hành án huyện Ân Thi.
5]. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo được UBND xã xác nhận nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo T 02(hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy Đối với 0,133g Heroine (H), 01 vỏ ống bằng nhựa màu trắng đỏ và 01 vỏ phong bì do Phòng K Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong ghi số 198/KL-KTHS(MT) được quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện Â1.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ-VKSAT ngày 12/4/2024 của VKS huyện Â2, tỉnh Hưng Yên và được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Thủy |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Th tàng trữ TPMT
