|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ - ST.
Ngày: 22/4/2024.
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Ngô Thị Luân.
- Bà Trần Thị Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 460/2023/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên Tòa số 09/2024/QĐST - HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu H. Sinh năm: 1992.
- Bị đơn: Anh Lưu Quốc T. Sinh năm: 1992.
Địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Đặng Thị Thu H trình bày: Chị và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được mấy năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và xô sát với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lưu Thị Anh T1, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Lưu Quốc T2, sinh ngày 01/01/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị xác định để vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Lưu Quốc T trình bày: Anh và chị H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh có quan hệ tình cảm bên ngoài. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh thì anh không đồng ý ly hôn vì anh không muốn gia đình tan vỡ.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lưu Thị Anh T1, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Lưu Quốc T2, sinh ngày 01/01/2015. Nếu phải ly hôn anh yêu cầu được nuôi cháu T2, anh đồng ý giao cháu T1 cho chị H có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh xác định để vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Anh xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Thu H. Xử cho chị H và anh T được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Lưu Thị Anh T1, sinh ngày 26/10/2015 và cháu Lưu Quốc T2, sinh ngày 01/01/2015 cho chị H có trách nhiệm trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị H, anh T xác định về tài sản chung để vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, giải quyết với nhau. Vì vậy, không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Chị H, anh T xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung. Vì vậy, không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Đặng Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên toà, chị Đặng Thị Thu H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lưu Quốc T vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên cần căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị H, anh T theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L vào ngày 03/7/2012 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Tại phiên Tòa chị H vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T. Chị H cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được mấy năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T cũng thừa nhận cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh có quan hệ tình cảm bên ngoài. Qua yêu cầu ly hôn của chị H thì anh không đồng ý ly hôn bởi anh không muốn gia đình tan vỡ.
Xét thấy, nguyên nhân vợ chồng chị H, anh T phát sinh mâu thuẫn là do anh T có quan hệ bất chính bên ngoài từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và xô sát với nhau. Do vợ chồng anh chị sảy ra mâu thuẫn nên anh chị đã tự sống ly thân, trong thời gian sống ly thân tình cảm của vợ chồng anh chị vẫn không cải thiện được. Bên cạnh đó anh T không đồng ý ly hôn với chị H nhưng anh T cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm với chị H thể hiện ở việc Tòa án đã thông báo hòa giải cho anh T biết, tuy nhiên anh T không đến Tòa án làm việc. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị H và anh T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3]Về con chung: Chị H và anh T xác định vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lưu Thị Anh T1, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Lưu Quốc T2, sinh ngày 01/01/2015. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi hai con chung. Anh T yêu cầu được nuôi cháu T2 và đồng ý giao cháu T1 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay cháu T1, cháu T2 đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được ở với chị H. Bên cạnh đó từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân cho đến nay các cháu đều do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của các cháu nên cần căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Lưu Thị Anh T1, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Lưu Quốc T2, sinh ngày 01/01/2015 cho chị H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị H, anh T xác định về tài sản chung để vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Chị H, anh T xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc chị Đặng Thị Thu H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn ly hôn của chị Đặng Thị Thu H, xử cho chị Đặng Thị Thu H và anh Lưu Quốc T được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lưu Thị Anh T1, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Lưu Quốc T2, sinh ngày 01/01/2015 cho chị Đặng Thị Thu H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Đặng Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0004373 ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/4/2024), các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hữu Dũng |
Bản án số 28/2024/HNGĐ - ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiền - TRường
