|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 16-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Trang; ông Nguyễn Thành Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 20241 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 21/3/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc T
sinh ngày: 15/01/1958; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: cán bộ nghỉ hưu. Là Đảng viên Đ2 đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 62-QĐ/UBKTHU ngày 05/3/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Kiến Xương. Con ông Nguyễn Đức P và con bà Phạm Thị B (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị Công T1, có 02 con. Tiền án; tiền sự: không. Nhân thân: Từ năm 1976 đến năm 2012 là cán bộ ngành Công an. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Cổ phần P3
Địa chỉ: Cụm C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc A - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần P3 (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1972
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1969
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1967
- Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1942
- Ông Phạm Văn V, sinh năm 1952
- Ông Nuyễn Văn C, sinh năm 1947
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1953
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1944
- Anh Trần Thái H, sinh năm 1982
- Anh Lại Văn T5, sinh năm 1989
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990
- Anh Vũ Văn P1, sinh năm 1982
- Chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1983
- Chị Lại Thị M2, sinh năm 1988
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1977
- Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1973
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974
- Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1981
- Anh Nguyễn Đức V1, sinh năm 1980
- Ông Trần Đăng K, sinh năm 1957
Đều cư trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Lại Hồng P2, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt nên bị cáo Nguyễn Quốc T cùng 19 hộ gia đình thuộc thôn Đ, xã V thống nhất mua nước sạch sinh hoạt của Công ty Cổ phần N2 (viết tắt là Công ty N2), đồng thời bị cáo Nguyễn Quốc T đại diện cho các hộ gia đình ký hợp đồng. Từ tháng 12/2015, Công ty N2 lắp đặt đường ống và 01 công tơ tổng tại vị trí cạnh đường bê tông thôn Đ, xã V và bàn giao cho bị cáo T quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm trả tiền dùng nước sạch hàng tháng. Trong quá trình sử dụng, bị cáo T và ông Trần Đăng K thống nhất nối thêm 02 đường ống nước từ sau đồng hồ nước nhà anh Nguyễn Văn H3 để sử dụng nước đến trang trại nhà bị cáo T và nhà ông K. Đường ống nước và đồng hồ từ sau đồng hồ của Công ty N2 lắp đặt đến các hộ gia đình sử dụng nước sạch do bị cáo T và các hộ gia đình tự lắp đặt, tổng số đồng hồ nước là 22 cái. Hằng tháng, bị cáo T kiểm tra đồng hồ tại các hộ gia đình, ghi khối nước sử dụng trong tháng và thu tiền sử dụng nước; Công ty N2 căn cứ vào số nước theo đồng hồ đã hợp đồng với bị cáo T để thu tiền. Tổng số tiền bị cáo T phải nộp theo hóa đơn là 7.100 đồng/ m³ nước cộng thêm thuế giá trị gia tăng 5% và phí bảo vệ môi trường thì giá 01m³ nước sạch tương ứng là 8.165 đồng. Bị cáo T và các hộ gia đình đã thỏa thuận bị cáo T thu của các hộ dân 8.200 đồng/m³ nước sạch theo chỉ số đồng hồ của từng gia đình.
Tháng 8/2022, trong quá trình sử dụng nước sạch, bị cáo T thấy đường nước của Công ty N2 chảy yếu, còn đường ống nước sạch của Công ty Cổ phần P3 (viết tắt là Công ty P3) chảy mạnh hơn nên bị cáo T nảy sinh ý định đấu nối đường ống nước sạch của Công ty P3 vào đường ống nước sạch sau đồng hồ của Công ty N2 để cung cấp nước cho gia đình bị cáo T và các hộ gia đình trong thôn sử dụng. Vào khoảng 21 giờ một ngày cuối tháng 8/2022 (bị cáo không nhớ ngày), bị cáo T thấy không có người đi lại trên đường nên đã mang xà beng, cưa và ống nhựa hình chữ “T” đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Đ, xã V cách nhà bị cáo T khoảng 20m theo hướng đi ra đường D. Bị cáo dùng xà beng đào đường rồi cưa ống nước của Công ty P3 và đường ống nước của nhà bị cáo, sau đó bị cáo T dùng ống nhựa hình chữ “T" để đấu nối hai đường ống nước với nhau, rồi san lấp lại. Từ tháng 9/2022, nước sạch từ đường ống nước của Công ty P3 cùng với nước sạch của Công ty N2 chảy sang đường ống nước sau đồng hồ của Công ty N2 và cấp nước cho 22 gia đình trong thôn sử dụng. Hằng tháng, bị cáo T ghi chép số nước sạch của các gia đình sử dụng vào sổ và thu tiền tương ứng. Tuy nhiên, chỉ số nước theo đồng hồ của Công ty N2 ít hơn tổng số nước của các hộ gia đình sử dụng nên số tiền mà bị cáo T phải trả cho Công ty N2 theo đồng hồ bị cáo T hợp đồng với Công ty N2 ít hơn tổng số tiền mà bị cáo T thu được của các gia đình, số tiền chênh lệch hằng tháng bị cáo T giữ lại sử dụng cá nhân. Đến ngày 21/6/2023, nhân viên của Công ty P3 đi kiểm tra phát hiện, chụp ảnh đồng hồ và lập biên bản về việc bị cáo T trộm cắp nước sạch của Công ty P3.
Tổng số nước các hộ gia đình đã sử dụng theo chỉ số công tơ ngày 21/6/2023 mà Công ty P3 chụp ảnh là 17.853m³ nước. Theo sổ ghi chép do bị cáo T tự mở để thu tiền nước từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023 thì tổng số nước mà các hộ gia đình sử dụng từ trước đó đến tháng 8/2022 là 15.576m³. Do đó, tổng số nước mà các hộ gia đình sử dụng từ tháng 9/2022 đến ngày 21/6/2023 là 2.277m³. Tổng số khối nước theo hoá đơn sử dụng nước sạch do Công ty N3 cho bị cáo T từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023 là 147m³. Như vậy, tổng số nước sạch sinh hoạt mà bị cáo T trộm cắp của Công ty P3 từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023 là 2.130m³ có giá trị là 15.804.600 đồng. Ngoài ra, tổng số tiền bị cáo T thu của 20 hộ gia đình (trừ nhà ở và trang trại của bị cáo) là 20.390.000 đồng, trong đó bị cáo T nộp về cho Công ty N2 tổng số tiền theo hóa đơn là 1.200.255 đồng, số tiền chênh lệch bị cáo T hưởng lợi bất chính từ các gia đình là 19.189.745 đồng.
Bản Kết luận định giá tài sản số 13 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K, kết luận: Tại thời điểm từ tháng 11/2022 đến tháng 5/2023, đơn giá 01m³ nước sạch sinh hoạt là 7.420 đồng/m³ (đã bao gồm VAT). 1.765m³ nước sạch sinh hoạt có giá trị là 13.096.300 đồng (đã bao gồm VAT).
Bản Kết luận định giá tài sản số 02 ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K, kết luận: Tại thời điểm từ tháng 09/2022 đến tháng 6/2023, đơn giá 01m³ nước sạch sinh hoạt là 7.420 đồng/m³ (đã bao gồm VAT), 2.130m³ nước sạch sinh hoạt có giá trị là 15.804.600 đồng (đã bao gồm VAT).
Cáo trạng số 15/CT-VKSKX ngày 26/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội: "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 173; điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho những án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo T 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Bị cáo T tự nguyện bồi thường cho bị hại là Công ty cổ phần P3 số tiền 15.804.600 đồng, bị cáo T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương 16.000.000 đồng, đối trừ số tiền phải bồi thường, trả lại bị cáo T 195.400 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47; căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 xà beng, 01 cưa cầm tay, 01 “T” nối chuyển đổi loại 40-30 bằng nhựa, 01 “T” nối, loại 32-32 bằng nhựa và 01 van khóa nước bằng kim loại.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố và không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình,bị cáo xin lỗi bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi các chứng cứ khác như: Đơn trình báo của Công ty cổ phần P3 (bút lục từ số 34 đến số C); biên bản xác minh hiện trường, sơ đồ hiện trường (bút lục từ số 47 đến số 49); bảng tổng hợp số hộ sử dụng nước sạch và ảnh chỉ số trên 19 đồng hồ nước và ảnh chụp vị trí đấu nối 02 đường nước sạch (bút lục từ số 244 đến số 262a); biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử, sổ ghi chép thu tiền nước (bút lục số 173, 312, 316 đến 322); lời khai của người làm chứng là anh Lại Hồng P2 (bút lục số 170 đến 171); biên bản làm việc với bà Nguyễn Thị Ngọc A (bút lục số 274 đến 275); lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bút lục số 154 đến 169, 173 đến 241); bản kết luận định giá tài sản số 13/KLĐG-HĐĐG ngày 06/10/2023 (bút lục số 19); bản kết luận định giá tài sản số 02 ngày 05/02/2024 (bút lục số 22). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, loại tài sản bị cáo đã chiếm đoạt.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian cuối tháng 8/2022, bị cáo Nguyễn Quốc T đã có hành vi dùng xà beng đào đường, cưa đường ống nước sạch của Công ty Cổ phần P3 và đường ống nước sau đồng hồ tổng mà bị cáo hợp đồng với Công ty Cổ phần N2 rồi dùng ống nhựa hình chữ “T” để đấu nối 02 đường nước với nhau, cùng cung cấp nước cho các hộ gia đình trong thôn Đ, xã V sử dụng. Số tiền chênh lệch bị cáo T thu được của các hộ gia đình sau khi đã trả cho Công ty N2 theo hóa đơn, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023, bị cáo T đã trộm cắp của Công ty Cổ phần P3 2.130m³ nước sạch sinh hoạt có giá trị là 15.804.600 đồng. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Quốc T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 173 Bộ luật Hình sự: Tội “Trộm cắp tài sản” quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[3] Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, an ninh xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho các chủ tài sản trong việc bảo quản tài sản của mình. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Bị cáo T là cán bộ hưu, có lương hưu nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T tự nguyện bồi thường cho bị hại là Công ty cổ phần P3 số tiền 15.804.600 đồng, bị cáo T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương 16.000.000 đồng, đối trừ số tiền phải bồi thường, trả lại bị cáo T 195.400 đồng.
[6] Đối với số tiền 19.189.745 đồng sử dụng nước mà các hộ gia đình tại thôn Đ, xã V đã nộp cho bị cáo T, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, số tiền bị cáo thu lợi bất chính là: 19.189.745₫ – 15.804.600đ = 3.385.145 đồng cần buộc bị cáo T nộp lại để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 xà beng bằng kim loại, dài 118cm, một đầu nhọn, đầu còn lại bẹt bằng, thân xà beng hình lục giác, mỗi cạnh rộng 1,3cm; 01 cưa cầm tay, dài 45cm, lưỡi cưa bằng kim loại, loại hai lưỡi dài 30cm, bản lưỡi cưa dài 02cm; tay cầm và lưng lưỡi cưa kim loại được sơn màu đỏ; 01 “T” nối chuyển đổi loại 40-30 bằng nhựa HDPE màu đen, được sử dụng trong đấu nối nước; 01 “T” nối, loại 32-32, bằng nhựa HDPE màu đen, được sử dụng trong đấu nối nước và 01 Van khóa nước bằng kim loại, loại khớp nối 32-32, được sử dụng khoá chặn nước không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 173; điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ vào Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/4/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần P3 số tiền 15.804.600 đồng, chuyển số tiền 16.000.000 đồng bị cáo T đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0001274 ngày 02/02/2024 của Chi cục thi hành án huyện Kiến Xương để bồi thường cho Công ty cổ phần P3, trả lại bị cáo T 195.400 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T nộp 3.385.145 đồng để tịch thu sang ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 xà beng bằng kim loại, dài 118cm, một đầu nhọn, đầu còn lại bẹt bằng, thân xà beng hình lục giác, mỗi cạnh rộng 1,3cm; 01 cưa cầm tay, dài 45cm, lưỡi cưa bằng kim loại, loại hai lưỡi dài 30cm, bản lưỡi cưa dài 02cm; tay cầm và lưng lưỡi cưa kim loại được sơn màu đỏ; 01 “T” nối chuyển đổi loại 40-30 bằng nhựa HDPE màu đen, được sử dụng trong đấu nối nước; 01 “T” nối, loại 32-32, bằng nhựa HDPE màu đen, được sử dụng trong đấu nối nước và 01 Van khóa nước bằng kim loại, loại khớp nối 32-32, được sử dụng khoá chặn nước.
(Vật chứng nêu do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương đang quản lý)
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bị cáo Nguyễn Quốc T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/4/2024. Bị hại là Công ty cổ phần P3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc T
