Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2024

V/v Ly hôn giữa chị Tâm và anh Hảo

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bảng
  2. Bà Nguyễn Thị Vượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1988 (Xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Xuân, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (Xin vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024, các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn lần đầu năm 2008, đến năm 2017 vợ chồng chị ly hôn. Sau đó ngày 10/8/2018 vợ chồng chị lại đăng ký kết hôn lần hai tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về chung sống với cùng nhau, nhưng vẫn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên tháng 12/2023 vợ chồng chị sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên chửi bới xúc phạm chị, hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Nguyễn Thu H1, sinh ngày 01/11/2008 và Nguyễn Tiến H2, sinh ngày 21/5/2019, hiện nay cháu H1 đang ở với anh H, cháu H2 đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu H2, giao cháu H1 cho anh H nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn, anh Nguyễn Văn H có lời khai trình bày về thời gian đăng ký kết hôn và quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng, mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, nhưng anh nghĩ chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, chưa đến mức phải ly hôn. Trường hợp chị T cương quyết xin ly hôn thì anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung anh đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Thu H1, giao cho chị T nuôi cháu Nguyễn Tiến H2. Anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến H2, sinh ngày 21/5/2019. Giao cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Thu H1, sinh ngày 01/11/2008.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Ngoài ra còn đề xuất giải quyết về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Ngô Thị T có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn H. Anh H đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị T và anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H đăng ký kết hôn ngày 10/8/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện nên hôn nhân giữa chị T và anh H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên chị T và anh H đã chấm dứt quan hệ tình cảm và kinh tế, sống ly thân từ ngà 31/12/2023 đến nay, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được và xin ly hôn. Anh H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức ly hôn, nhưng anh H cũng xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

[3] Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Nguyễn Thu H1, sinh ngày 01/11/2008 và Nguyễn Tiến H2, sinh ngày 21/5/2019, hiện nay cháu H1 đang ở với anh H, cháu H2 đang ở với chị T. Chị T và anh H đều thống nhất chị T nuôi cháu H2, anh H nuôi cháu H1 và cháu H1 cũng có nguyện vọng được ở với anh H. Cả chị T và anh H đều có đủ điều kiện để nuôi con, do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao mỗi người nuôi một con là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Chị T là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến H2, sinh ngày 21/5/2019. Anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thu H1, sinh ngày 01/11/2008. Chị T, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở quyền này.
  3. Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001659 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Tiến, TP Bắc Giang;
  • - Các đương sự.
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án tối cao
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Thu Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tâm - Hảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger