TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phương Thúy
2. Bà Phan Thị Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên; Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Bị đơn: Ông L, H -W, sinh ngày 02/11/1955; quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan); số hộ chiếu: 352158091, Bộ N (Đài Loan) cấp ngày 13/5/2019; địa chỉ: Số A Hựu T, xóm A, Thôn Đ, xã T, huyện G, Đài Loan; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày:
Bà Nguyễn Thị X và ông L, H - Wen đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam ngày 23 tháng 9 năm 2019. Sau khi kết hôn, do dịch bệnh, vợ chồng chưa được chung sống với nhau. Ngày 09/01/2020, hai vợ chồng được phỏng vấn tại Văn phòng K tại Hà Nội, nhưng không qua. Sau đó, do tình hình dịch bệnh kéo dài, ông L, H-W về Đài Loan và mắc bệnh khớp không đi lại được, vợ chồng sống xa cách nhau từ đó đến nay. Bà X xác định tình cảm vợ chồng không còn do bất đồng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn với ông L, H - W để ổn định cuộc sống.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn ông L, H - Wen trình bày:
Ông L, H -W xác định về thời gian kết hôn, tình trạng hôn nhân như lời trình bày của bà Nguyễn Thị X. Về tình cảm vợ chồng, ông xác định tự nguyện ly hôn, ông và bà X không có con chung, tài sản chung, nợ chung. Bà X yêu cầu ly hôn, ông nhất trí.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật; những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X, cho bà X được ly hôn ông L, H - Wen. Bà Nguyễn Thị X phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn ông L, H -W là người có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), hiện đang sinh sống tại Đài Loan, có địa chỉ cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Liu, H -Wen gửi văn bản thể hiện quan điểm cá nhân về cho Tòa án và có xác nhận của Văn phòng công chứng thuộc Tòa án địa phương T, Đài Loan là hợp pháp.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị X đang cư trú tại xóm B, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị đơn trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết hiện đang ở nước ngoài, không đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để tham gia tố tụng, căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bị đơn gửi văn bản xin được xét xử vắng mặt và có xác nhận của Văn phòng công chứng thuộc Tòa án địa phương T, Đài Loan. Căn cứ khoản 1 Điều 228, khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về giải quyết nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị X và ông L, H - Wen trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng không có điều kiện được chung sống với nhau. Ngày 09/01/2020, hai vợ chồng được phỏng vấn tại Văn phòng Kinh tế Văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội nhưng không qua. Sau đó, do tình hình dịch bệnh kéo dài, ông L, H - W về Đài Loan và mắc bệnh khớp không đi lại được, vợ chồng sống xa cách nhau, bất đồng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, mục đích hôn nhân không đạt được.
Hội đồng xét xử thấy, mục đích hôn nhân giữa bà X và ông L, H-Wen là cuộc sống chung vợ chồng đã không đạt được. Bà X xác định vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, nên yêu cầu được ly hôn với ông L, H -W để ổn định cuộc sống. Tại văn bản thể hiện ý kiến của ông L, H -Wen gửi Toà án có xác nhận của Văn phòng công chứng thuộc Tòa án địa phương Tân Trúc, Đài Loan, xác định vợ chồng không còn tình cảm, ông đồng ý ly hôn với bà X, nên chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị X đối với ông L, H- W là phù hợp với ý kiến của đương sự, phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[2.2] Về con chung: Bà X và ông L, H -Wen đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà X và ông L, H -Wen đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Án phí Hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị X phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5] Thông báo quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, 38, 39, Điều 147; khoản 1 Điều 228, khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị X với ông L, H -W. Bà Nguyễn Thị X được ly hôn với ông L, H -W.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Toà án không giải quyết.
- Án phí: Bà Nguyễn Thị X phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000151 ngày 07/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
- Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị X được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ tuyên án; ông L, H - Wen được quyền kháng cáo trong hạn 01 (Một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN (đã ký) Hoàng Quý Sửu |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn thị x và liu han w
