TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày 20-6-2024 V/v ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Nhân
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Mai Thị Duyên
Ông Nguyễn Văn Thiện
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T; nơi cư trú: Số nhà B đường L, tổ C, phường Đ, quận H, thành phố H, P, có mặt.
- Bị đơn: Ông Phùng Văn H; nơi cư trú: Số nhà B đường L, tổ C, phường Đ, quận H, thành phố H, P, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2024 và tại phiên toà nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày: Bà và bị đơn là ông Phùng Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng, số 04 ngày 15/01/1996. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được hai con chung. Tuy nhiên quá trình chung sống nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn như trước, nguyên nhân do quan điểm sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm về mọi mặt, không tìm được tiếng nói chung, ông H không chịu tu chí làm ăn, xuốt ngày rượu chè, cờ bạc, nợ nần, bản thân bà còn phải trả nợ cho ông H nhiều lần, kinh tế gia đình ngày càng khó khăn, vợ chồng liên tục xảy ra mâu thuẫn, dù cố gắng giảng hoà, nói chuyện với nhau nhưng không có kết quả. Hiện bà và ông H sống ly thân, quá trình ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, bà đề nghị Hội đồng xét xử cho bà được ly hôn với ông Phùng Văn H.
Về con chung: Bà và ông Phùng Văn H có hai con chung là: Phùng Thị H1, sinh ngày 19/12/1996; Phùng Văn H2, sinh ngày 02/7/2002, hai cháu đều đã trưởng thành, bà không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.
Về tài sản chung: Bà và ông Phùng Văn H tự thoả thuận, không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.
Tại phiên toà ông Phùng Văn H trình bày: Ông và bà Phan Thị T có đăng ký kết hôn năm 1996 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là UBND phường N, quận H, thành phố Hải Phòng) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông sinh sống tại địa chỉ trên cho đến nay. Quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì, trong cuộc sống bản thân ông có chơi cờ bạc, uống rượu nhưng vẫn quan tâm đến gia đình vợ con, không bỏ bê gia đình, chỉ ham chơi cờ bạc, cuộc sống gia đình vẫn vui vẻ, đến ngày 12/02/2024, bà T về nhà bố mẹ đẻ chơi và từ đó không về nhà nữa, ông đã nhiều lần đến tìm nhưng không gặp, trong thời gian sống ly thân, bà T không quan tâm gì đến ông, hiện tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, không có mâu thuẫn gì, bà T xin ly hôn ông không đồng ý.
Về con chung: Ông và bà Phan Thị T có hai con chung là: Phùng Thị H1, sinh ngày 19/12/1996; Phùng Văn H2, sinh ngày 02/7/2002, hai cháu đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Ông và bà Phan Thị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng trình tự tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị T và ông Phùng Văn H.
- Về con chung: Bà Phan Thị T và ông Phùng Văn H có hai con chung: Phùng Thị H1, sinh ngày 19/12/1996; Phùng Văn H2, sinh ngày 02/7/2002, hai cháu đều đã trưởng thành, nên không đặt ra để giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Phan Thị T và ông Phùng Văn H không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bà Phan Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Phùng Văn H; nơi cư trú: Số nhà B đường L, tổ C, phường Đ, quận H, thành phố H, Phòng; căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
[2] Về điều kiện kết hôn: Nguyên đơn bà Phan Thị T và bị đơn ông Phùng Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng, số 04 ngày 15/01/1996 nay là UBND phường N, quận H, thành phố Hải Phòng, trên cơ sở tự nguyện. Việc kết hôn giữa bà Phan Thị T và ông Phùng Văn H tuân thủ đúng quy định tại các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của bà Phan Thị T và ông Phùng Văn H là hợp pháp.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của bà T, ông H và các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, xét thấy nguyên nhân mẫu thuẫn do bất đồng về tính cách, lối sống, hạnh phúc không thể hàn gắn, bản thân bà T không còn tình cảm, không quan tâm chăm sóc ông H, vợ chồng sống ly thân. Vì vậy hôn nhân của bà T và ông H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà T đề nghị Hội đồng xét xử cho ly hôn với ông H là phù hợp với thực tế nên cần được chấp nhận (được quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình).
[4] Về con chung: Bà T và ông H có hai con chung: Phùng Thị H1, sinh ngày 19/12/1996; Phùng Văn H2, sinh ngày 02/7/2002, hai cháu đều đã trưởng thành, các cháu có đủ năng lực hành vi dân sự, bà T và ông H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Bà Phan Thị T và ông Phùng Văn H không yêu cầu Toà án giải quyết.
[6] Về án phí: Bà Phan Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bà Phan Thị T và ông Phùng Văn H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa nguyên đơn bà Phan Thị T và bị đơn ông Phùng Văn H.
Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con chung: Phùng Thị H1, sinh ngày 19/12/1996; Phùng Văn H2, sinh ngày 02/7/2002, hai cháu đều đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Toà án giải quyết
Về án phí: Nguyên đơn bà Phan Thị T phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền số 0005541 ngày 13/3/2024, nguyên đơn đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Sơn Thị Nhân |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T - H
